Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

Trung Quốc lập mạng thông tin trên đảo của Việt Nam

Trung Quốc lập mạng thông tin trên đảo của Việt Nam

Nhằm bao phủ mạng lưới thông tin tại các đảo và vùng biển thuộc cái gọi là "thành phố Tam Sa," Cục Quản lý Thông tin tỉnh Hải Nam đang tiến hành xây dựng dự thảo "Quy hoạch các hạng mục xây dựng mạng thông tin thành phố Tam Sa."

Đây là bước đi mới nhất trong một loạt các hoạt động thời gian qua của phía Trung Quốc, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

Theo quy hoạch kể trên, tỉnh Hải Nam sẽ xây mới 51 trạm thông tin tại các đảo, 104 trạm trên các tàu và 8 tuyến cáp quang vượt biển. Hiện nay, quy hoạch này đang trong quá trình chỉnh sửa hoàn thiện.
Một nhóm đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Một nhóm đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Cục trưởng Cục quản lý thông tin tỉnh Hải Nam, ông Tiết Lương Yên ngang nhiên tuyên bố việc hoàn thiện bao phủ mạng lưới thông tin hải dương "thành phố Tam Sa" sẽ giúp đảm bảo thông tin cho các hoạt động du lịch, nghề cá tại địa phương, có thể phục vụ tốt hơn cho đời sống và phát triển kinh tế của quân đội, nhân dân trên địa bàn "thành phố Tam Sa."

Việc vận hành thương mại mạng di động, điện tín, trạm thông tin và trung tâm Internet hiện đã bao phủ diện tích bán kính 70 km xung quanh đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và toàn bộ 7 đảo Trung Quốc chiếm đóng và khu vực phụ cận thuộc vùng biển Trường Sa của Việt Nam.

Trước đó, vào ngày 22/7, Công ty truyền thông mạng liên hợp China Unicom Hải Nam đã đưa vào hoạt động trái phép Trạm thu phát sóng di động (BTS) 3G trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Hôm 19/7, cơ quan khí tượng tỉnh Hải Nam cũng thông báo đã có các thiết bị quan trắc khí tượng bằng radar thế hệ mới trên mặt đất và trên không tại đảo Phú Lâm.

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự đồng ý của Việt Nam là nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là trái với Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển đã ký giữa hai nước, không phù hợp với Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như các cam kết duy trì ổn định, hòa bình trên biển.
Theo Vietnam+

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

TT - Với tỉ lệ thu thuế, phí trên GDP mức 26,3% mà báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội vừa công bố, nhiều chuyên gia cho rằng thuế, phí cao đã triệt tiêu động lực tái đầu tư của người dân.
Đặc biệt là các sắc thuế đang đánh trực diện vào nhiều doanh nghiệp.


Sản xuất tủ điện tại Công ty cổ phần Sáng tạo công nghiệp ở Khu công nghiệp Tân Thới Hiệp, Q.12, TP.HCM - Ảnh: THUẬN THẮNG
Các văn bản của Bộ Tài chính cũng như đánh giá của các chuyên gia đều cho thấy thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của VN cần phải giảm xuống.
Nộp từ 25-30%

"Không thể chần chừ nữa, tốt nhất là nên giảm mạnh và giảm ngay thuế TNDN xuống mức 20% hoặc 17% để doanh nghiệp dễ thở, có nguồn tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh"
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan
Theo ông Phạm Thế Anh - quyền viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách công và quản lý Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, người viết chương 2 báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội, mức thu từ thuế và phí, không kể thu từ dầu thô, của VN hiện nay “rất cao so với các nước khác trong khu vực”. Ông Phạm Thế Anh dẫn chứng thu từ dầu thô đang có tỉ trọng ngày càng giảm dần trong tổng thu ngân sách nhà nước, từ khoảng 6,9% GDP trong năm 2007 xuống còn chưa đầy 3,1% GDP trong năm 2011. Trong khi thu ngân sách ngay cả trong năm kinh tế suy giảm vẫn tăng, ông Thế Anh cho rằng: “Điều này chứng tỏ tỉ trọng các khoản thu khác (trong đó có thuế TNDN - pv) đang ngày càng gia tăng”. Còn theo báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm 2009 mà Bộ Tài chính đã công bố, trong tổng thu từ thuế, phí khoảng 418.000 tỉ đồng thì thu từ thuế TNDN đã lên tới 112.100 tỉ đồng. Phân tích quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm của Bộ Tài chính, ông Phạm Thế Anh cho rằng tổng thu thuế và phí của VN đang chủ yếu đến từ ba nguồn chính, gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu. Trong đó tỉ trọng thuế TNDN vẫn chiếm tới 28% trong tổng thu từ thuế, phí của Nhà nước giai đoạn 2009-2011. Ông Thế Anh cho rằng tổng mức thu thuế của VN cao đã hạn chế khả năng tích lũy, làm giảm đầu tư phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân.
Luật sư Trương Thanh Đức, chủ tịch Công ty luật Basico, cho biết cách đây năm năm đã đề nghị giảm mức thuế TNDN. Theo ông Đức, thuế hiện nay của VN không chỉ cao về mức thuế mà còn bị “chặn đầu chặn đuôi, dùng hàng rào kỹ thuật để tăng thu”. Cụ thể với thuế TNDN, mức thuế hiện là 25% nhưng ở nhiều nước các chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế “rộng” hơn, còn VN thì khống chế, như chi phí quảng cáo, tiếp thị chỉ được phép 10% tổng chi phí. “Điều này có nghĩa nhiều doanh nghiệp ở VN có thực chi lớn nhưng cũng không được tính, nên nhiều khi thật ra họ lỗ nhưng vẫn được coi là lãi và vẫn... phải đóng thuế” - ông Đức nhấn mạnh.
Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng, cho rằng ở VN thuế suất là một chuyện nhưng khi thực thi số thuế phải nộp cao hơn nhiều. “Nhìn vào luật thì tưởng chừng đơn giản nhưng tại các văn bản hướng dẫn thì vô vàn các văn bản là thông tư, công văn hướng dẫn”. Bà Lan nhận định mức thuế TNDN của VN về mặt chính thức là 25%, nhưng thực tế số tiền thuế mà hầu hết doanh nghiệp phải nộp là trên 25%, thậm chí lên 30% đối với một số lĩnh vực. “Bởi căn cứ để tính thuế, chi phí hợp lý, hợp lệ đáng lẽ được khấu trừ nhưng người đi thu thuế lại không công nhận. Ở các nước giảm trừ đi nhiều lĩnh vực, như đóng góp xã hội chẳng hạn, còn ở VN cơ quan thuế vẫn tính vào” - bà Lan nói.
Giảm để khuyến khích đầu tư
Tại hội thảo về thuế tiêu thụ đặc biệt và TNDN vào tháng 8-2012, ông Nguyễn Văn Phụng, vụ phó Vụ Chính sách thuế Bộ Tài chính, thừa nhận các quy định trong Luật thuế TNDN về định mức khấu hao không phù hợp thực tiễn, tính khả thi thấp... “Trong thực tế doanh nghiệp có thể phải chi phí khi mua bán với các cá nhân không kinh doanh, với kinh tế hộ gia đình... nên không thể có hóa đơn để tính chi phí hợp lý được trừ thuế” - ông Phụng nói.
Trong văn bản “Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020” do Bộ Tài chính trình và đã được Thủ tướng phê duyệt, bộ này đã đề nghị giảm mức thuế TNDN. Tuy nhiên, mức giảm rất từ từ, chỉ giảm xuống khoảng 22-23% vào năm 2015, sau đó đến tận 2020 mới giảm xuống còn khoảng 20%. Văn bản cũng cho rằng việc điều chỉnh giảm mức thuế TNDN sẽ giúp thu hút đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy để đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh...
Tư vấn cho VN sửa đổi Luật thuế TNDN, ông Ved P. Gandhi, chuyên gia thuế quốc tế của Ngân hàng Thế giới, cho rằng các nước đang có xu thế giảm mạnh thuế suất nhằm khuyến khích đầu tư. Tại các nước châu Âu, thuế suất bình quân giảm 33% năm 2000 xuống 25% năm 2011, riêng lĩnh vực phi tài chính thì thuế suất chỉ 21%. Gần đây, nhiều nước và lãnh thổ trong khu vực đang có kế hoạch giảm mạnh thuế suất thuế TNDN xuống hơn nữa. Singapore chỉ còn 17%, Đài Loan hiện có mức thuế 23% và dự kiến sẽ giảm còn 20% vào năm 2013...
Ông Ved P. Gandhi khuyến nghị VN nên cải cách phù hợp với những thông lệ quốc tế như không hạn chế các khoản chi phí sản xuất kinh doanh được trừ.
Với tỉ lệ thu thuế, phí trên GDP tới 26,3%, ông Trương Thanh Đức đề nghị cần giảm xuống tương đồng với các quốc gia trong khu vực. Bởi mức thu thuế, phí trên GDP tới 26,3%, theo ông Đức, có nghĩa người dân làm ra tổng giá trị 10 đồng, chưa biết họ lãi được bao nhiêu, Nhà nước đã thu tới hơn 1/4. “Khi tình trạng trốn thuế phổ biến thì phải nghĩ ngay đến thuế đang quá cao. Tôi nghĩ nếu thuế, phí hợp lý hơn, doanh nghiệp sẽ vui vẻ đóng thuế, không tìm mọi cách lách như hiện nay” - luật sư Đức nhấn mạnh.
CẦM VĂN KÌNH - LÊ THANH

Ông Lê Khánh Lâm (phó tổng giám đốc Công ty kiểm toán DTL): Ảnh hưởng đến thu hút đầu tư
Gần đây, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và có kế hoạch giảm hơn nữa. Mức thuế đang áp dụng tại Singapore là 17%, Hong Kong 16,5%. Một số nước còn có ngưỡng miễn thuế ban đầu cao, đánh thuế theo biểu lũy tiến hoặc lũy thoái. Bên cạnh việc giảm thuế suất, họ còn duy trì ưu đãi thuế để khuyến khích kinh doanh và đầu tư...
Trong khi đó, không chỉ áp dụng mức thuế suất cao, từ năm 2009 VN bỏ nhiều chính sách ưu đãi làm ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế sau năm 2009 đầu tư nước ngoài sụt giảm, một trong những nguyên nhân là do thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của VN cao hơn so với các nước láng giềng, đồng thời các chi phí giảm trừ khác cũng bị siết chặt như chi phí quảng cáo khuyến mãi bị giới hạn ở mức 10%. Việc khống chế này đã khiến số thuế thực tế mà các doanh nghiệp phải trả cao hơn nhiều so với mức thuế suất mà thuế thu nhập doanh nghiệp đưa ra.
Để đối phó với chính sách thuế, nhà đầu tư đang dịch chuyển sang các nước trước kia có nhiều hạn chế về cạnh tranh đầu tư với VN như Indonesia, Malaysia, Myanmar... Ngoài ra còn có khuynh hướng doanh nghiệp thu gọn quy mô hoặc đóng cửa công ty, chỉ còn mở văn phòng đại diện tại VN. Vì vậy, đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 20-22% là phù hợp.
ÁNH HỒNG
Bộ Tài chính: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp liên tục... giảm
Tại buổi họp báo Chính phủ ngày 5-9, trả lời câu hỏi của Tuổi Trẻ về báo cáo kinh tế vĩ mô của ủy ban Kinh tế Quốc hội vừa công bố, trong đó có đánh giá khả năng ứng phó bất ổn vĩ mô của Chính phủ và tỉ lệ huy động thuế trên GDP của VN cao, ông Vũ Đức Đam - bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ - khẳng định Chính phủ luôn lắng nghe, cầu thị với các góp ý. Ông Đam nhấn mạnh báo cáo ủy ban Kinh tế công bố là báo cáo thường niên, các đánh giá này là quan điểm riêng của tác giả, không phải quan điểm của ủy ban Kinh tế. Trong khi đó, báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 do ủy ban Kinh tế công bố cũng nêu rõ ý trên và cho biết thêm báo cáo được thực hiện trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì, với sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc tại VN (UNDP).
Về tỉ lệ thuế huy động trên GDP (26,3% như báo cáo của Ủy ban Kinh tế công bố), theo ông Đam, là chưa loại trừ thu từ dầu. Ông Đam cho biết khi Chính phủ hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế và các chỉ tiêu kinh tế trình Quốc hội và khi Quốc hội thảo luận đều cởi mở, công khai, cầu thị. Các chỉ tiêu kinh tế đều liên quan đến nhau, như tỉ lệ động viên vào ngân sách và đầu tư.
Bà Vũ Thị Mai, thứ trưởng Bộ Tài chính, trả lời việc tỉ lệ động viên vào ngân sách có ý kiến cho rằng cao, theo đó, bà Mai khẳng định tỉ lệ huy động vào ngân sách của các nước không tính thu dầu thô, thu từ tiền sử dụng đất, trong khi VN có tính cả khoản này. Lấy ví dụ Trung Quốc, bà Mai cho biết báo cáo ủy ban Kinh tế nêu tỉ lệ huy động là 17,3% nhưng Trung Quốc có hai hệ thống thu trung ương và địa phương, trong khi VN tính luôn cả thu ngân sách trung ương và địa phương. Sau khi loại trừ các yếu tố thu từ dầu thô, tiền sử dụng đất, tỉ lệ huy động vào ngân sách của VN, bà Mai tính trung bình cả 20 năm qua và khẳng định chỉ khoảng 12-14% GDP.
Đi vào sắc thuế cụ thể, như thuế thu nhập doanh nghiệp, bà Mai cho biết từ năm 1999 đến nay, thuế suất liên tục giảm. Từ mức 32% xuống 28% (2004), xuống 25% (2009) và hiện nay ngoài mức phổ thông 25%, còn thuế ưu đãi 10%.
Với thuế thu nhập cá nhân, bà Vũ Thị Mai không đi vào con số so sánh cụ thể - trong báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 nêu mức chịu thuế 10% của VN thấp hơn một số nước - mà khẳng định thuế thu nhập cá nhân ở VN đã liên tục điều chỉnh giảm.
CẦM VĂN KÌNH
Thuế “đè bẹp” sức cạnh tranh
Không chỉ khó khăn do thuế TNDN cao, nhiều doanh nghiệp cũng lao đao do tình trạng thuế chồng thuế, cách tính thuế bất hợp lý không khuyến khích được sản xuất trong nước.
Ông Trần Tuấn Anh - tổng giám đốc Công ty thang máy Thái Bình (TP.HCM) - cho biết có một nhà máy sản xuất thang máy tại Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi và sản phẩm sản xuất ra phân phối trên toàn quốc. Thế nhưng nay với mức thuế, phí cao đang khiến chi phí đầu vào cao và giá thành không cạnh tranh nổi với sản phẩm ngoại nhập. Thậm chí muốn cạnh tranh một cách bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài mà cũng không thể vì bị đánh thuế cao hơn nhiều lần so với họ.
Thuế suất thuế TNDN ở VN và một số nước, vùng lãnh thổ
Thuế TNDN (%)
Việt Nam 25
Campuchia 20
Singapore 17
Ðài Loan 23
Theo ông Trần Tuấn Anh, mức thuế nhập khẩu đối với một số nguyên liệu nhập về để sản xuất trong lĩnh vực ông sản xuất hiện cao hơn gấp nhiều lần đối với hàng hóa nhập nguyên chiếc. Cụ thể, nếu nhập về nguyên chiếc thang máy thì chịu thuế 5%, còn nếu nhập các phụ kiện về để sản xuất ra chiếc thang máy đó thì thuế tới 10-15%. Thậm chí nút bấm trong thang máy chỉ sử dụng được cho thang máy cũng bị áp mức thuế 15%. Từ đây khiến giá thành đầu vào bị đội lên cao nên hàng hóa sản xuất ra giảm sức cạnh tranh so với hàng ngoại nhập, đặc biệt là thang máy nhập từ Trung Quốc.
Tương tự, ông Vũ Anh Tuấn, giám đốc Công ty chế tạo máy dược phẩm Tiến Tuấn (Khu công nghiệp Tân Bình) cho rằng cách tính thuế cũng như việc áp thuế như hiện nay không những không sát với thực tế mà còn triệt tiêu cả ý chí đầu tư của doanh nghiệp. Đặc biệt là việc áp thuế nhập khẩu các thiết bị, nguyên vật liệu kỹ thuật cao mà VN chưa sản xuất được. Ông Tuấn dẫn chứng sản phẩm môtơ kỹ thuật cao dùng trong lĩnh vực chế tạo máy, thuế suất nhập khẩu áp tới 40%, và áp đến 150% cho phần mềm để lập trình chuyển động môtơ này, dù một số chi cục hải quan hiện nay vẫn chưa có đủ mã số để áp tính thuế cho chủng loại thiết bị này.
Đồng cảnh ngộ như ông Tuấn, ngành sản xuất lốp ôtô trong nước cũng từng “dở khóc dở cười” khi thuế suất nhập khẩu dây curoa thành phẩm là 5%, trong khi để nhập khẩu dây nilông (polyester) để sản xuất ra dây curoa kia cơ quan thuế đã tính ở mức... 30%. “Chúng tôi đã phải lên xuống nhiều lần, kiện tụng không biết bao nhiêu bận thì cơ quan hải quan mới chịu giải quyết, dù chính họ cũng thấy vô lý” - ông Lê Văn Trí, phó giám đốc Công ty cổ phần Cao su miền Nam, thở dài nói.
Theo ông Nguyễn Đức Thuấn - giám đốc điều hành Tập đoàn Thái Bình, để xác lập được một mức thuế TNDN cho phù hợp, điều quan trọng nhất là Chính phủ phải nhìn năng lực cạnh tranh, trình độ phát triển của doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp quốc gia khác ở cùng ngành nghề, lĩnh vực.
“Chính phủ phải nắm được thật chính xác doanh nghiệp VN có lợi thế cạnh tranh gì, họ có thể tạo ra được năng lực cạnh tranh nào để vừa cạnh tranh trên sân nhà, vừa đấu được trên thương trường quốc tế” - ông Thuấn bày tỏ. Với ngành da giày, ông Thuấn cho rằng nếu thuế TNDN dưới 20%/năm sẽ khuyến khích được các doanh nghiệp tập trung vào việc sản xuất các mặt hàng có hàm lượng giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ chọn hướng gia công lấy công làm lời.
ĐÌNH DÂN - TRẦN VŨ NGHI

Việt Nam tụt 10 hạng về năng lực cạnh tranh toàn cầu

SGTT.VN - Việt Nam xếp thứ 75/142 về năng lực cạnh tranh toàn cầu, theo một báo cáo mà Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vừa công bố. So với năm ngoái, Việt Nam đã tụt 10 bậc về năng lực cạnh tranh.
>> Vàng tăng 900.000 đồng, vượt ngưỡng 46 triệu/lượng
>> Tạm nhập tái xuất: Toàn hàng cấm, độc hại
Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness report 2012-2013) do WEF công bố ngày 5.9 cho thấy, trong 3 năm trở lại đây, Việt Nam liên tục đi xuống về năng lực cạnh tranh, không chỉ cả về thứ hạng mà cả điểm số đánh giá.

Trong 3 năm trở lại đây, Việt Nam liên tục đi xuống về năng lực cạnh tranh, không chỉ cả về thứ hạng mà cả điểm số đánh giá.
Trong xếp hạng năm nay, Việt Nam đạt tổng điểm 4,1 trên mức điểm tuyệt đối là 7, đứng ở vị trí thứ 75 trong tổng số 144 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng, cùng nhóm với một số nước và vùng lãnh thổ như Ukraine, Uruguay, Seychelles, Georgia, Romania…
Trong báo cáo 2011-2012, Việt Nam được 4,2 điểm, xếp ở vị trí 65 trong số 142 quốc gia được WEF đánh giá. Trước đó, báo cáo 2010-2011 của tổ chức này xếp Việt Nam ở vị trí thứ 59 về năng lực cạnh tranh toàn cầu trong số 139 quốc gia được xếp hạng, với điểm số 4,3 điểm.
Ở nhóm nhân tố đánh giá các yêu cầu cơ bản (Basic requirements) - bao gồm các yếu tố về thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, và y tế và giáo dục cơ bản - Việt Nam xếp hạng thấp nhất về môi trường kinh tế vĩ mô, đứng ở vị trí thứ 106. Ở nhóm này, xếp hạng cao nhất dành cho Việt Nam thuộc về tiêu chí chăm sóc y tế và giáo dục cơ bản, với hạng 64. Xếp hạng chung của Việt Nam ở cả nhóm các yêu cầu cơ bản là hạng 91.
Đối với nhóm các yếu tố nâng cao hiệu quả (Effciency enhancers) - bao gồm các yếu tố về giáo dục bậc cao và đào tạo, độ hiệu quả của thị trường hàng hóa, độ hiệu quả của thị trường lao động, mức độ phát triển thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng công nghệ và quy mô thị trường - xếp hạng dành cho Việt Nam là 71. Trong đó, xếp hạng tiểu mục cao nhất dành cho Việt Nam là ở tiêu chí quy mô thị trường, ở hạng 32. Về mức độ sẵn sàng về công nghệ, Việt Nam chỉ đứng ở vị trí thứ 98.
Ở nhóm các yếu tố về năng lực sáng tạo và độ chín kinh doanh, Việt Nam xếp hạng thứ 90 thế giới. Trong đó, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 100 về độ chín kinh doanh và vị trí thứ 81 về năng lực sáng tạo.
Theo số liệu mà WEF đưa ra, Việt Nam hiện có mức GDP bình quân đầu người là 1.374 USD. GDP tính theo đồng giá sức mua của Việt Nam hiện chiếm 0,38% GDP toàn cầu.
Một số nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á có xếp hạng cao hơn Việt Nam như Philippines (vị trí 65), Indonesia (vị trí 50), Thái Lan (38), Brunei (28), Malaysia (25), Singapore (2). Chỉ có 2 quốc gia Đông Nam Á được xếp hạng thua Việt Nam về năng lực cạnh tranh là Campuchia, đứng ở vị trí thứ 85, Timor Leste ở vị trí 136. Lào và Myanmar chưa có tên trong bảng xếp hạng này.
Báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu năm nay của WEF cũng chứng kiến sự xuống hạng của nước Mỹ. Theo đó, nền kinh tế lớn nhất thế giới này tụt 2 bậc, xuống hạng 7 từ hạng 5 trong năm ngoái. Báo cáo cho biết, sự thiếu ổn định kinh tế vĩ mô, tình trạng thiếu niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào Chính phủ Mỹ, cũng như những quan ngại về sức khỏe tài khóa của nước này là một số lý do khiến nước Mỹ xuống hạng về năng lực cạnh tranh.
Thụy Sỹ và Singapore tiếp tục là hai quốc gia có năng lực cạnh tranh mạnh nhất thế giới theo đánh giá của WEF. Theo báo cáo, Thụy Sỹ đạt điểm số cao ở mọi nhân tố đánh giá, nổi bật là hiệu quả của thị trường lao động, độ chín của các doanh nghiệp và năng lực sáng tạo. Thụy Sỹ chính là một trong những nước có số bằng sáng chế tính trên đầu người cao nhất thế giới.
Các quốc gia và vùng lãnh thổ còn lại trong top 10 gồm có Phần Lan, Thụy Điển, Hà Lan, Đức, Mỹ, Anh, Hồng Kông và Nhật Bản.
Trong số các nền kinh tế mới nổi lớn gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc (nhóm BRIC), Trung Quốc là nước có xếp hạng cao nhất, đứng ở vị trí thứ 26. Brazil xếp thứ 53, tiếp theo là Ấn Độ ở vị trí 56 và Nga ở vị trí 66.
5 quốc gia “đội sổ” của xếp hạng theo thứ tự từ dưới lên, lần lượt là Burundi, Sierra Leone, Haiti, Guinea, và Yemen.
Theo VnEconomy.v

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

Nạn nhân của pháp đình

Oằn vai thuế thu nhập cá nhân

Trong khi thu nhập bình quân đầu người của mỗi người dân đứng “đội sổ” so với thế giới, thì thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại VN lại được đánh ở mức khá cao, và kéo dài suốt từ 2009, kể cả khi kinh tế khó khăn, lạm phát dâng cao.

 nộp thuế
Làm thủ tục nộp thuế tại Cục thuế Hai Bà Trưng (Hà Nội) - Ảnh: Ngọc Thắng
Lần đầu tiên báo cáo chuyên đề do Ủy ban Kinh tế Quốc hội chủ trì đã thẳng thắn chỉ rõ, thuế tại VN quá cao đang làm ảnh hưởng đến tích lũy của doanh nghiệp (DN) và tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt là thuế TNCN hiện đang “đánh” vào hơn 15 triệu đối tượng.
Thu nhập thấp, bị đánh thuế cao
Báo cáo khẳng định, khoản thu nhập chịu thuế của người dân VN thấp hơn nhưng lại chịu thuế cao hơn so với Trung Quốc (TQ) và Thái Lan. Cụ thể, với thu nhập 3.451 - 5.175 USD/năm, người VN đã bị áp thuế suất 10%, trong khi cũng với mức thuế suất này con số tương ứng ở Thái Lan và TQ lần lượt là 4.931 - 16.434 USD/năm và 3.801 - 9.500 USD/năm.

Ngay cả với 7 mức thuế suất từ 5% đến 35% được cho là vừa cao vừa dày, thì vừa qua khi trình dự thảo sửa đổi luật, Bộ Tài chính cũng không hề “đả động” gì đến, với lý do đã tăng mức giảm trừ gia cảnh



Một trong những mục tiêu quan trọng của luật thuế là chỉ điều tiết một phần thu nhập của cá nhân có thu nhập trên mức trung bình của xã hội, phần thu nhập còn lại đảm bảo nâng cao đời sống. Tuy nhiên, kể từ khi bắt đầu có hiệu lực 1.1.2009 đến nay, thuế TNCN đã thực sự trở thành gánh nặng của người dân. Thạc sĩ Hà Thị Dương Lan - giảng viên Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính đã chứng minh bằng một nghiên cứu gần đây rằng, số thu từ thuế TNCN đóng cho ngân sách năm 2009 là 14.316 tỉ đồng, bằng 110% so với năm 2008, bằng 3,4% tổng số thu ngân sách nhà nước (NSNN). Bước sang 2010 đã đạt 26.282 tỉ đồng, bằng 183,6% so với 2009, chiếm khoảng 4,7% tổng thu NSNN. Số thu năm 2011 khoảng 37.160 tỉ đồng, bằng 141,38% năm 2010, khoảng 5,5% tổng thu NSNN. Nếu so với GDP, năm 2009 tỷ lệ huy động bằng 0,87%/GDP; năm 2010 là 1,37%/GDP; năm 2011 khoảng 2,03%/GDP.
Số thu từ thuế TNCN tăng nhanh cả về số tuyệt đối, tỷ trọng trên tổng thu, nguyên nhân theo thạc sĩ Lan là do số đối tượng nộp thuế tăng đều đặn từng năm theo từng đợt tăng lương từ 450.000 đồng/tháng năm 2009 lên 830.000 đồng/tháng năm 2011. Ngoài ra, do thu nhập của các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh tăng khi chỉ số CPI tăng (năm 2008: 19,9%; năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; năm 2011: 18,13%), nhưng ngược lại mức giảm gia cảnh từ năm 2007 đến nay lại không hề nhúc nhích. Chính vì vậy, sự bao biện trong suốt thời gian qua của cơ quan quản lý trở nên vô nghĩa và chính cơ quan này cũng phải thừa nhận sự lạc hậu của luật để tăng mức giảm trừ khi sửa.
Nhìn lại mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế 4 triệu đồng/người/tháng bằng 1,7 lần thu nhập bình quân GDP đầu người trong một tháng của VN năm 2011 thấy cao hơn nhiều so với TQ (6.404 USD/năm - bằng 1,23 lần GDP bình quân đầu người 2011); tương tự Indonesia 1.830 USD/năm (khoảng 0,527 lần); Malaysia khoảng 2.687 USD/năm (0,312 lần)... Thế nhưng, mức giảm trừ gia cảnh của VN thực tế lại rất thấp vì thu nhập GDP bình quân đầu người của VN chỉ bằng 0,262 lần TQ, bằng 0,257 lần Thái Lan, bằng 0,158 lần Malaysia, bằng 0,392 lần Indonesia và 0,604 lần Philippines.
“Người nộp thuế không phàn nàn gì”?
Ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn - Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, qua thực hiện miễn thuế TNCN bậc 1 tháng đầu tiên (tháng 7.2012) đối tượng hưởng khá lớn, đợt miễn giảm này khoảng 3.600 tỉ đồng, cơ bản người nộp thuế không phàn nàn gì.
Tuy nhiên, theo một tiến sĩ chuyên ngành tài chính, con số trên quá nhỏ và nếu Bộ Tài chính đến hỏi những người đang chịu thuế suất bậc 2 sẽ biết có sự phàn nàn hay không. Ông dẫn số liệu thống kê, số người nộp thuế từ thu nhập từ lương, tiền công ở bậc 1 chiếm tỷ trọng lớn trong số người phải nộp thuế (năm 2009 khoảng 77,3%, năm 2010 khoảng 73,3%, năm 2011 khoảng 77%), nhưng số thuế nộp không lớn so với tổng thuế thu từ lương, tiền công (năm 2009 khoảng 6,9%, năm 2010 khoảng 7%, năm 2011 gần 10%). Số người nộp thuế từ thu nhập từ lương, tiền công ở bậc 2 trở lên không lớn (năm 2009 là 22,7%, năm 2010 là 26,7%, năm 2010 là 23%), nhưng số thuế nộp chiếm tỷ trọng lớn (năm 2009 là 93,1%, năm 2010 là 93%, năm 2011 khoảng 90%). “Đó là lý do vì sao, cứ khi nào khó khăn nhà quản lý chỉ đưa ra mỗi giải pháp giảm thuế bậc 1”, tiến sĩ này nói.
Ngay cả với 7 mức thuế suất từ 5% đến 35% được cho là vừa cao vừa dày, thì vừa qua khi trình dự thảo sửa đổi luật, Bộ Tài chính cũng không hề “đả động” gì đến, với lý do đã tăng mức giảm trừ gia cảnh. Trong khi đó, theo thạc sĩ Lan, việc sửa đổi biểu thuế lũy tiến từng phần (điều 22 luật Thuế TNCN) để khuyến khích người có trình độ kỹ thuật cao, năng lực điều hành giỏi ra sức lao động là rất cần thiết.
Bộ Tài chính đang trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự thảo luật Thuế TNCN với việc nâng mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp từ 4 triệu lên 9 triệu đồng, người phụ thuộc từ 1,6 triệu lên 3,2 triệu đồng. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia khẳng định, dự thảo luật lại sẽ nhanh chóng lạc hậu và bị dư luận phản đối do mức trên sẽ không còn phù hợp cho các giai đoạn tiếp theo sau 2015 khi thu nhập người dân đã khá hơn, mức lương tối thiểu được điều chỉnh. Kể cả khi dự thảo luật bổ sung quy định “mở” - tức giá cả thị trường biến động trên 20% thì Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp với sự biến động của giá cả, mức lạm phát giai đoạn tới chỉ 15% cũng đủ cho người dân khó sống, chứ không nói 20%.

Cần có thêm ưu đãi cho người nộp thuế khi về hưu
Thu thuế cao nhưng VN không có các chính sách thực sự ưu đãi cho cá nhân người nộp khi về hưu, về già. Trong khi đó, các quốc gia khác thu thấp hơn, ưu đãi quan tâm nhiều hơn. Cụ thể:
Công dân Singapore có thu nhập hằng tháng trên 50 SGD sẽ đóng góp một phần thu nhập vào Quỹ tiết kiệm trung ương (CPF). Tỷ lệ đóng góp tăng theo mức lương và giảm theo độ tuổi. Thuế thu nhập được tính trên lương sau khi đã trừ phần đóng góp cho CPF và một số khoản khác. Tối thiểu 139.000 SGD một người cần được để dành cho mục đích trợ cấp trong vòng 20 năm bắt đầu từ năm 65 tuổi. Nhiều hơn số đó, công dân trên 55 tuổi có thể tự do rút phần dư nếu muốn. Ngoài ra, CPF còn có các gói trợ cấp cả đời cho người dân lựa chọn.
Công dân Hồng Kông từ 18 đến 65 tuổi phải đóng góp 10% (5% nếu lương hằng tháng dưới 6.500 HKD) thu nhập hằng tháng cho Quỹ tiết kiệm bắt buộc (MPF). Không quá 12.000 HKD mỗi năm sẽ được hoàn thuế cho người dân đã có tham gia đóng góp các khoản bắt buộc hằng tháng, trong đó có MPF. Đến tuổi 65, hoặc 60 nếu chọn nghỉ hưu sớm, người dân có thể chọn rút toàn bộ khoản tiết kiệm trên.
Quỹ hưu trí ở Trung Quốc dựa trên hệ thống “3 cột đỡ”: cột 0 tương đương với các khoản bảo hiểm xã hội, cột 1 tương đương với trợ cấp hưu trí căn bản và cột 2 tương đương với phụ cấp hưu trí. Tùy theo tỉnh và thành phố, từ 15 đến 17% lương hằng tháng sẽ nộp vào cột 1, với mức đóng góp tối thiểu là 60% và tối đa là 300% lương trung bình của tỉnh hay thành phố đó. 11% nữa sẽ được nộp vào cột 2, đưa tổng tỷ lệ đóng góp hưu trí tại TQ lên 28%, vào hàng cao nhất thế giới. Các đóng góp trên đều được miễn thuế. Công dân lao động trên 15 năm sẽ được nhận trợ cấp hưu trí căn bản hằng tháng từ cột 1 tương đương 20% lương trung bình của tỉnh và thành phố nơi họ làm việc cộng với một phần phụ cấp bằng tổng số tiền họ đóng góp cho quỹ tiết kiệm chia 120. Công dân lao động chưa đến 15 năm không được nhận trợ cấp từ cột 1 và chỉ nhận lại toàn bộ số tiền mà họ đã đóng góp.  

Hạnh Vân



Miễn thuế thu nhập cá nhân bậc 1 trong 6 tháng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 60 quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 29 của Quốc hội (QH) về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân.


Theo đó, giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2012 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), không bao gồm DNNVV kinh doanh trong lĩnh vực xổ số, bất động sản, chứng khoán, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; DN được xếp hạng 1, hạng đặc biệt thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty.
DNNVV được giảm thuế là DN - kể cả HTX (không bao gồm đơn vị sự nghiệp) - đáp ứng các tiêu chí về vốn hoặc lao động theo quy định của Nghị định 56/2009 về trợ giúp phát triển DNNNV. 
Quy định giảm thuế nói trên cũng được áp dụng với DN sử dụng nhiều lao động (LĐ) trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến, như nông sản, lâm sản, thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử; DN sử dụng nhiều LĐ xây dựng công trình hạ tầng kinh tế - xã hội. DN sử dụng nhiều LĐ thuộc đối tượng được giảm thuế nêu trên là DN có tổng số LĐ sử dụng thường xuyên bình quân năm 2012 trên 300 người, không kể LĐ có hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng. Trường hợp DN tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con thì số LĐ làm căn cứ xác định công ty mẹ thuộc đối tượng giảm thuế không bao gồm số LĐ của công ty con.
Nghị định cũng quy định miễn thuế thu nhập cá nhân từ ngày 1.7.2012 đến hết ngày 31.12.2012 đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế  thu nhập cá nhân ở bậc 1 của Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Thu nhập tính thuế làm căn cứ xác định việc miễn thuế là thu nhập tính thuế bình quân tháng của cá nhân thực nhận trong năm 2012.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20.9.2012. 

Bảo Cầm

CƯỠNG CHẾ THU HỒI ĐẤT

Cưỡng chế thu hồi đất là “việc của tỉnh Hưng Yên”

SGTT.VN - Ngày 21.8, tại trụ sở bộ Tài nguyên và môi trường, thứ trưởng bộ này, ông Chu Phạm Ngọc Hiển đã chủ trì buổi đối thoại giữa bộ với hơn 100 người dân, đại diện cho những nông dân Văn Giang mất đất trong dự án xây dựng khu đô thị Văn Giang (tỉnh Hưng Yên).
Ông Hiển nói rằng, đây là cuộc đối thoại để thực hiện lời hứa của bộ trưởng (Nguyễn Minh Quang) là “sẵn sàng đối thoại với dân Văn Giang”, khi phát biểu trước Quốc Hội hơn hai tháng trước.

Nông dân Văn Giang tại hiện trường khu đất bị cưỡng chế ngày 24.4, phía xa là một phần khu đô thị Ecopark. Ảnh: Chí Hiếu
“Chưa có quyết định cưỡng chế thu hồi đất”
Nội dung thời sự nhất mà luật sư Trần Vũ Hải (đại diện pháp lý của các hộ dân) muốn bộ Tài nguyên và môi trường trả lời là: việc cưỡng chế thu hồi đất và hỗ trợ thi công (ngày 24.4) có đúng quy định không, được áp dụng theo điều nào của quy định nào?
Ông Hiển hai lần nhấn mạnh: Việc cưỡng chế thu hồi đất và áp dụng biện pháp hỗ trợ thi công “là việc tỉnh Hưng Yên” chứ không phải của bộ. “Xung quanh việc cưỡng chế ở Văn Giang, Thủ tướng đã có cuộc họp các bộ liên quan và đã có chỉ đạo, thông báo kết luận. Và Thanh tra Chính phủ mới là cơ quan được Thủ tướng giao phối hợp cùng UBND tỉnh Hưng Yên xem xét báo cáo Chính phủ”, ông Hiển nói.
Luật sư Hà Nghi Sơn bổ sung: Việc cưỡng chế ngày 24.4 là cưỡng chế xử phạt hành chính theo quyết định xử phạt hành chính ngày 13.12.2011 của UBND huyện. Thêm vào đó, chưa hề có quyết định thu hồi đất nên đó không thể gọi là cưỡng chế thu hồi đất. Tuy nhiên, theo ông Hiển, nếu khiếu nại các quyết định hành chính thì được thực hiện tại toà án.
Chưa hài lòng, luật sư Hải hỏi tiếp: Nếu bộ không nói đúng hay sai thì hãy nói căn cứ điều khoản nào được áp dụng để cưỡng chế thu hồi và hỗ trợ thi công? Ông Hiển đáp: “Luật Đất đai không hướng dẫn trình tự thủ tục cưỡng chế mà phải theo các luật khác”.
Trả lời thắc mắc của dân vì sao không có quyết định thu hồi đất đến từng hộ dân, ông Hiển cho biết, việc ban hành quyết định thu hồi đất đến từng hộ chỉ áp dụng theo luật Đất đai 2003 (và nghị định 181 năm 2004 về hướng dẫn thực hiện luật Đất đai), trong khi dự án này thực hiện trước khi luật Đất đai 2003 và nghị định có hiệu lực thi hành. “Luật Đất đai 1993 không bắt buộc thu hồi đến từng hộ dân; Luật sửa đổi 2001, quy định thẩm quyền thu hồi đất, giao đất đều cùng một cấp nên trong trường hợp này, quyết định 742 (ngày 30.6.2004) của Thủ tướng về giao đất cho chủ đầu tư đồng thời cũng là quyết định thu hồi đất”, ông Hiển giải thích.
Thủ tục dự án
Liên quan thủ tục dự án mà người dân thắc mắc, ông Hiển khẳng định dự án này được thực hiện đúng thủ tục về ban hành văn bản. “Tỉnh trình bộ ngày 28.6, bộ trình Thủ tướng ngày 29.6; như vậy, về trình tự thời gian là logic, về hồ sơ lưu trữ cũng đầy đủ. Tuy nhiên, trước đó, từ năm 2003 đến tháng 6.2004 các bộ liên quan đã phối hợp với tỉnh để tham mưu thực hiện dự án theo đúng quy định chứ không phải chỉ một ngày là tham mưu được ngay”, ông Hiển nói.
Các hộ dân cho hay: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Văn Giang 2003 “chưa có dòng nào về phát triển khu đô thị Văn Giang”, thì cơ sở nào để bộ Tài nguyên và môi trường tham mưu Chính phủ ra quyết định giao cho chủ đầu tư thực hiện? Ông Hiển lý giải, việc xây dựng khu đô thị Văn Giang đã được xác định, được căn cứ quy hoạch đô thị, đã được tỉnh Hưng Yên phê duyệt quy hoạch chung, xin ý kiến thoả thuận của bộ Xây dựng.
Lập tức, ông Trương Công Tĩnh, (xã Cửu Cao) phản bác: Đến tháng 1.2002 thường vụ Tỉnh uỷ Hưng Yên còn ra quyết định cho ba xã chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo mô hình VAC, vậy nên nếu chỉ một năm sau lại nói đã có quy hoạch (khu đô thị) thì chẳng khác nào lừa dân! Ông Tĩnh muốn đại diện tỉnh Hưng Yên có mặt tại buổi đối thoại là phó chủ tịch Đặng Minh Ngọc lên tiếng, nhưng ông Hiển từ chối yêu cầu này: “Đại diện tỉnh Hưng Yên chỉ được bộ mời đến nghe, chứ đòi (tỉnh) cung cấp ngay thì chưa chắc chuẩn bị được”. Và ông Hiển nhấn mạnh: Thông báo 127 ngày 20.5.2010 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng có nói: dự án khu đô thị Văn Giang đã được trình, thẩm định theo đúng quy định, phù hợp quy hoạch vùng, quy hoạch của tỉnh.
Chí Hiếu (lược thuật)

VINALINES

Vinalines: Lỗ và lãng phí trên 2 nghìn tỉ đồng

Ông Dương Chí Dũng bị bắt

Được xem như những trụ cột của ngành vận tải biển quốc gia nhưng nhiều thành viên của Tổng công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) kinh doanh thua lỗ, lợi nhuận có được chủ yếu từ bán tài sản.


Những kết luận mới của Thanh tra Chính phủ (TTCP) cho thấy, các tồn tại cũ như mua tàu cũ, nhiều tàu cũ tới mức không thể đăng kiểm được ở Việt Nam, phải treo cờ nước ngoài và việc đầu tư dàn trải... làm TCty lỗ tới trên 1.685 tỉ đồng...

Lặp lại điệp khúc mua tàu cũ, thiệt hại lớn

Kết thúc thanh tra việc chấp hành pháp luật trong công tác quản lý và sử dụng vốn, tài sản tại Vinalines giai đoạn 2007 - 2010, TTCP chỉ ra hàng loạt những tồn tại, sai phạm. Hai trọng tâm trong chiến lược phát triển của TCty là "phát triển nhanh, vững chắc đội tàu biển và hệ thống cảng biển" đều mắc lỗi cơ bản, khiến cho mục tiêu "sớm trở thành tập đoàn hàng hải mạnh trong khu vực... " trở nên xa vời.

Năm 2009, Vinalines lỗ 412,325 tỉ đồng; năm 2010 lỗ 1.273,892 tỉ đồng (không bao gồm 5 đơn vị chuyển từ Vinashin sang). Năm 2007 nợ phải trả là 17.071 tỉ đồng chiếm 65,8%, năm 2010 là 36.599,7 tỉ đồng chiếm 91,4% tổng nguồn vốn. Hiệu quả sử dụng vốn giảm mạnh, tỉ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu từ 14,15% năm 2007 xuống còn âm 14,8% năm 2010.
Để thực hiện kế hoạch phát triển, Vinalines được Chính phủ cho phép áp dụng nhiều chính sách, giải pháp ưu đãi về vốn, về thị trường cũng như được thực hiện cơ chế đặc thù trong đầu tư đăng ký, mua bán tàu biển...

Từ năm 2005 - 2010, Vinalines đầu tư mua 73 tàu, đa số các tàu mua là của nước ngoài, đã qua sử dụng, với năng lực vận tải 2.004.961 DWT, tổng số vốn là 22.853 tỉ đồng. 85% vốn mua tàu là vay thương mại, thậm chí dự án mua tàu Sky, Ocean, Global sử dụng 100% vốn vay...

Qua thanh tra, TTCP kết luận, cơ cấu đội tàu của Vinalines chưa phù hợp với quy hoạch được duyệt, chủ yếu là tàu vận chuyển hàng khô, tàu tải trọng lớn, ít chú ý đến tàu chuyên dùng. Tiến độ đóng mới tàu chậm so với kế hoạch 7 năm, làm tăng chi phí đầu tư.

Hầu hết các dự án được lập sơ sài, nội dung và thực tế thực hiện không thống nhất. Dự án nào cũng nêu hiệu quả kinh tế cao, thời gian thu hồi vốn nhanh, nhưng thực tế có 5/27 tàu đóng mới, 34/73 tàu mua về đưa vào khai thác lỗ, thậm chí có tàu lỗ nặng phải bán.

Ngoài ra, kết luận của TTCP cho thấy Vinalines đã đi vào đúng "vết xe đổ" của Vinashin khi mua hàng loạt tàu cũ. Có 17 tàu trên 15 tuổi không đủ điều kiện đăng ký tại Việt Nam, thậm chí tàu Lively Falcon 30 tuổi vẫn được mua và được Bộ GTVT cho phép đăng ký treo cờ nước ngoài (Mông Cổ, Panama). Điển hình trong số này có đội tàu của Cty cổ phần vận tải dầu khí Việt Nam (Falcon) mua tuổi bình quân là 26 năm và hiện 7/10 tàu treo cờ nước ngoài. Theo TTCP, việc mua tàu cũ không thể đăng ký tại Việt Nam làm xấu đi hình ảnh đội tàu quốc gia, giảm sức cạnh tranh.

Theo xác định của TTCP thì đội tàu của Vinalines thời điểm cao nhất có 149 tàu, thời điểm ít nhất có 100 tàu, nhưng được phân bố dàn trải, phân tán và manh mún ở 18 đơn vị khai thác, trong đó cá biệt có đơn vị chỉ có 1 tàu. (Xem tiếp trang 3)

Đội tàu trên lại chủ yếu để cho thuê định hạn, làm lệch hướng phát triển vận tải biển, chưa bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để phát triển thị trường vận tải biển phục vụ nền kinh tế quốc dân.

Hậu quả của những bất cập trên không chỉ làm kết quả khai thác đội tàu thấp. Trong giai đoạn 2005 - 2010, riêng việc khai thác của Cty mẹ lỗ 935 tỉ đồng. Ngoài ra, chính việc tổ chức vận tải phân tán, thiếu kinh nghiệm trong điều hành, dẫn đến tình trạng tàu của Vinalines bị nước ngoài bắt giữ phải ngừng hoạt động, người thuê tàu hủy hợp đồng, phát sinh chi phí nộp phạt, tranh tụng. Chỉ mới tính riêng hai vụ việc với tàu Việt NamL Global và tàu từ Vinashin chuyển sang đã gây thiệt hại gần 6 triệu USD.

Để xảy ra những tồn tại trên, TTCP khẳng định trách nhiệm trực tiếp thuộc Chủ tịch HĐQT nay là Hội đồng thành viên và Tổng Giám đốc Vinalines qua các thời kỳ từ 2007 - 2010.

Đầu tư dàn trải, ngập trong lãng phí và vi phạm

Giai đoạn 2007 - 2010, Vinalines đã quyết định đầu tư 14 dự án xây dựng cảng gồm 1 cảng cạn, 1 cảng sông và 12 cảng biển. Quá trình thanh tra, TTCP phát hiện hầu hết các dự án đều xảy ra vi phạm.

Trong đó, đáng chú ý có dự án xây dựng Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong. Đây là dự án nhóm A, có tổng mức đầu tư điều chỉnh là 6.177,6 tỉ đồng. Đến nay, dù chưa có tổ chức tài chính nào bảo đảm vốn đầu tư cho dự án, tuy nhiên Vinalines đã tổ chức lễ khởi công hoành tráng từ ngày 31.10.2009. Điều đáng nói là trong khi quyết định của Thủ tướng chỉ cho phép chi phí tối đa cho việc tổ chức lễ khởi công dự án là 50 triệu đồng thì TCty đã vung tay chi tới 4,114 tỉ đồng (vượt trên 80 lần) cho lễ khởi công này.
Cũng theo xác định của TTCP thì trong dự án này, Vinalines đã chỉ đạo, quản lý việc thiết kế, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán và quản lý thi công các hạng mục công trình không chặt chẽ, trái quy định, làm tăng vốn đầu tư như điều chỉnh dự toán gói thầu số 1 từ 14 tỉ đồng lên 21,6 tỉ đồng và chỉ định đơn vị trúng thầu trong cùng một quyết định; thiết kế không chính xác về chiều dài cọc, quản lý thi công thiếu kiên quyết, dẫn đến khi thi công đóng 115 cọc, thừa từ 2 - 10/cọc, gây lãng phí trên 2 tỉ đồng; nguy cơ mất 146 tỉ đồng tiền tạm ứng thực hiện hợp đồng nhập cọc...

Dự án đầu tư nhà máy sửa chữa tàu Vinalines phía Nam cũng được xác định là có nhiều sai phạm, gây lãng phí lớn. Đây là dự án có tổng mức đầu tư lên đến 3.854 tỉ đồng, nhưng Vinalines quyết định đầu tư khi chưa có quy hoạch. TTCP kết luận việc Vinalines quyết định đầu tư không đúng thẩm quyền.

Chỉ tính riêng việc mua ụ nổi No83M đã 43 tuổi, vượt 28 tuổi so với quy định đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi mua về phải sửa chữa nhiều lần. Tính đến ngày 30.4.2010, tổng số tiền lãng phí từ phi vụ được xác định là có dấu hiệu làm trái quy định này đã lên tới 489,6 tỉ đồng.

Theo TTCP, chỉ tính hai thương vụ đầu tư Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong và nhà máy sửa chữa tàu Vinalines phía nam, số tiền lãng phí đã lên đến trên 520 tỉ đồng.

Dự án đầu tư cảng Sài Gòn - Hiệp Phước; các dự án đầu tư xây dựng cảng liên doanh đều được xác định có tồn tại, vi phạm.

Ngoài ra theo TTCP, trong giai đoạn 2007 - 2010, Vinalines đã đầu tư và có vốn góp vào 158 doanh nghiệp. Tuy nhiên vốn đầu tư dàn trải và hiệu quả thấp. Sử dụng 1.000 tỉ vốn trái phiếu trái mục đích...

Theo TTCP, để xảy ra những tồn tại, sai phạm trên, ngoài nguyên nhân khách quan do tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu, có nguyên nhân chủ quan từ sự yếu kém trong công tác quản lý. Đầu tư dàn trải, không đồng bộ. Đến nay, có khoảng 1.836 tỉ đồng đầu tư dang dở không phát huy hiệu quả, gây lãng phí lớn. Trách nhiệm thuộc về tập thể lãnh đạo TCty, đứng đầu là Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc và giám đốc, trưởng các ban quản lý dự án của Vinalines qua các thời kỳ từ 2005 - 2010.

TTCP kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ GTVT và Bộ Nội vụ tổ chức, hướng dẫn các thành viên HĐQT (HĐTV) và Tổng Giám đốc Vinalines thời kỳ 2007 - 2010 kiểm điểm trách nhiệm, tự đề xuất hình thức xử lý để Thủ tướng xem xét, xử lý trách nhiệm người để xảy ra khuyết điểm sai phạm trên.

TTCP cũng kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo các bộ liên quan rà soát, sửa đổi nhiều quy định liên quan, khắc phục khoảng trống pháp lý liên quan đến việc xử lý trách nhiệm cũng như quản lý vốn tài sản nhà nước. Đồng thời, chuyển hồ sơ sang Bộ Công an để tiếp tục điều tra làm rõ những vi phạm trong việc đầu tư mua nổi No83M thuộc dự án xây dựng nhà máy sửa chữa tàu biển Vinalines phía nam.

Xung quanh đề án đầu tư 100.000 tỉ đồng phát triển đội tàu biển:
Vấn đề không phải là đầu tư bao nhiêu tiền!

Theo danh mục đầu tư đội tàu biển để phục vụ mục tiêu CNH-HĐH trong đề án đã được Bộ GTVT phê duyệt, giai đoạn 2012 - 2015 cần đầu tư 67 tàu trị giá 30.000 tỉ đồng. Số lượng tàu cần đầu tư trong giai đoạn 2016 - 2020 là 95 tàu với giá trị ước tính lên đến 70.000 tỉ đồng. Danh mục đầu tư đội tàu biển kể trên sẽ "ngốn" đến 100.000 tỉ đồng trong giai đoạn 2012 - 2020. Một số chuyên gia trong lĩnh vực này đã có ý kiến về câu chuyện đầu tư "khủng" này.

Mục tiêu của Bộ GTVT trong đề án CNH - HĐH ngành GTVT là đến năm 2015 có tổng trọng tải tàu đạt xấp xỉ 15 triệu tấn với các đội tàu vận tải quốc tế đủ các chủng loại. PGS-TS Nguyễn Văn Thụ - nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch và Quản lý GTVT - đặt nghi vấn: "Đến hết năm 2011, tổng đội tàu biển của Việt Nam mới đạt trọng tải chưa đến 7 triệu tấn dù đã được đầu tư nhiều trong những năm qua. Trong khi, hầu hết hàng xuất - nhập khẩu (XNK) của Việt Nam do các hãng tàu biển nước ngoài đảm nhận, hãng tàu Việt Nam không cạnh tranh được. Làm thế nào chỉ trong vòng 3 năm đạt được đến năng lực 15 triệu tấn?".

Còn ông Đỗ Xuân Quỳnh - Tổng Thư ký thường trực Hiệp hội Chủ tàu Việt Nam - cho rằng: "Chính phủ đã hoạch định chính sách, chiến lược phát triển vận tải biển. Vận tải biển phải đứng hàng đầu trong đóng góp GDP cả nước, phấn đấu đến năm 2030, các hãng tàu trong nước vận chuyển được 30% hàng hóa XNK của Việt Nam. Vì vậy, theo tôi Bộ GTVT phải làm sao để đạt được những mục tiêu đó chứ không phải đề ra giai đoạn này cần đầu tư bao nhiêu tiền, giai đoạn kia cần đầu tư bao nhiêu tiền".

Theo Duy Thanh

Đội tàu của Tổng công ty Hàng hải VN (Vinalines) hiện hoạt động ì ạch với nhiều tàu bỏ không, bị bắt giữ, vận tải thua lỗ..., thế nhưng dự kiến sẽ chi 100.000 tỉ đồng cho Vinalines phát triển đội tàu biển.

Thời kỳ ông Dương Chí Dũng làm tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) từ năm 2005-2010 đã vung 22.853 tỉ đồng mua ồ ạt tàu cũ.


Ông Dương Chí Dũng bị bắt

Sau hơn 3 tháng bị truy nã, ông Dương Chí Dũng, cựu Cục trưởng Hàng hải, đã bị bắt vào ngày 4/9. Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đang xác minh những người tiếp tay, che giấu cho ông Dũng trong thời gian bỏ trốn.
> Ông Dương Chí Dũng bị truy nã quốc tế/ Sai phạm tại Vinalines dưới thời ông Dương Chí Dũng

Ngay sau khi bắt giữ Dương Chí Dũng, Thượng tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an đã khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong chiến công này. Bộ Công an kêu gọi những cá nhân, tổ chức có hành vi che dấu, tiếp tay cho Dương Chí Dũng bỏ trốn nếu ra tự thú sẽ được hưởng khoan hồng.
Ông Dương Chí Dũng. Ảnh: Nhật Minh
Ông Dũng, 55 tuổi, được bổ nhiệm làm Cục trưởng Hàng hải vào tháng 2. Trước đó, ông này nhiều năm là Chủ tịch HĐQT, Chủ tịch Hội đồng thành viên Vinalines.
Ngày 18/5, cơ quan điều tra khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam 4 tháng với ông Dũng về hành vi Cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Thời điểm nhà chức trách tống đạt các quyết định trên, ông Dũng không có mặt tại cơ quan, nhà riêng. Cùng ngày, Bộ Giao thông đã tạm đình chỉ công tác với ông Dũng để phục vụ công tác điều tra.
Ngay sau đó, Bộ Công an phát lệnh truy nã đặc biệt nghi can này. Cuối tháng 6, lệnh truy nã quốc tế với ông Dũng được Ban Tổng thư ký Interpol đồng ý.
>> Vụ cựu Chủ tịch Vinalines bỏ trốn: Xem xét có lộ thông tin điều tra
>> 'Rút kinh nghiệm vụ ông Dương Chí Dũng bỏ trốn'
>> Diễn tiến việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng
Giữa tháng 7, trước nghi vấn lộ thông tin trong quá trình điều tra, trung tướng Phan Văn Vĩnh (Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm, Bộ Công an) khẳng định: "Chưa có tài liệu phản ánh việc lộ lọt thông tin hay việc ông Dũng mất nhiều tiền để được "phím" trước".
Theo Thanh tra Chính phủ, trong việc quản lý và sử dụng vốn giai đoạn 2007-2010, Tổng công ty Hàng hải (Vinalines) đã có nhiều khuyết điểm như mua sắm tàu cũ không phù hợp với kế hoạch được phê duyệt, quản lý sử dụng thiếu hiệu quả, dẫn tới kết quả kinh doanh yếu kém… Việc này được xác định có phần trách nhiệm của ông Dũng khi là Chủ tịch HĐQT.
Điều tra vụ việc, cơ quan điều tra phát hiện lãnh đạo Vinalines đã tự ý quyết định đầu tư khi chưa được Bộ Giao thông Vận tải cập nhật dự án vào quy hoạch; chưa trình Thủ tướng xem xét quyết định theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ. Việc làm của ông Dũng, cùng một số người khác được cho là "trái ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng", Luật đầu tư, Luật đấu thầu.
- Tháng 2, việc sửa chữa ụ nổi 83M (mua hơn 14 triệu USD) được cơ quan điều tra cho rằng có dấu hiệu của hành vi tham ô tài sản. Vụ án tham nhũng tại Vinalines được khởi tố. Cơ quan điều tra đã bắt tạm giam ông Trần Hải Sơn (Tổng giám đốc Công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines), Trần Văn Quang (Trưởng phòng kế hoạch Công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines), Trần Bá Hùng (cán bộ Hyundai Vinashin) và Phạm Bá Giáp (Giám đốc công ty Nguyên Ân).
Mở rộng điều tra vụ việc, nhà chức trách cho rằng đã phát hiện ông Dũng có hành vi cố ý làm trái quy định nhà nước trong việc mua ụ nổi 83M và phê duyệt dự án nhà máy sửa chữa tàu biển phía Nam.
- Tháng 5, Bộ Công an khởi tố bổ sung thêm tội Cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế vào vụ án đang điều tra.
- Ngày 17 và 18/5, ông Dũng cùng ông Mai Văn Phúc (Vụ phó Vụ vận tải, nguyên tổng giám đốc Vinalines), Trần Hữu Chiều (Phó tổng giám đốc Vinalines, Trưởng ban quản lý dự án nhà máy sửa chữa tàu biển Vinalines phía Nam) bị khởi tố và ra lệnh bắt tạm giam về tội Cố ý làm trái.
Hà Anh

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

METRO TAI TP.HCM


Thứ ba, 28/8/2012, 11:58 GMT+7

'Metro sẽ là mạch máu giao thông của TP HCM'

Sáng nay, trong lễ khởi công tuyến metro đầu tiên của VN, Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng yêu cầu TP HCM thực hiện đúng tiến độ đã cam kết. Dự án này được đánh giá là bước ngoặt thay đổi phương tiện giao thông của TP.
>Khởi công tuyến tàu điện ngầm 2 tỷ USD
>Tuyến tàu điện ngầm 2 tỷ USD trong tương lai

Sáng 28/8, UBND TP HCM đã tổ chức lễ khởi công tuyến tàu điện ngầm số 1 (Bến Thành - Suối Tiên), tuyến tàu điện đầu tiên của cả nước. Tham dự lễ có Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam - ông Yasuaki Tanizaki, lãnh đạo TP HCM, Bình Dương cùng đại diện người dân bị giải tỏa để nhường đất cho dự án.
Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, cùng lãnh đạo TP HCM bấm nút khởi công dự án tuyến metro số 1 sáng 28/8. Ảnh: Hữu Công.
Theo Chủ tịch UBND TP HCM Lê Hoàng Quân, thành phố đã được xác định là đô thị đặc biệt, là trung tâm kinh tế chính trị xã hội của cả nước. Vì vậy, Nghị quyết của Bộ Chính trị đã ưu tiên xây dựng, phát triển thành phố bền vững. Đây là tuyến tàu điện đầu tiên của cả nước nên quá trình xây dựng đã gặp rất nhiều khó khăn từ vốn, trình độ kỹ thuật cho đến cả chính sách. Nhưng với sự nỗ lực của thành phố, cùng sự hỗ trợ của các bộ ngành và Chính phủ Nhật Bản, dự án đã được chính thức khởi công.
"Thành phố cũng xin cám ơn bà con, những người đã hy sinh lợi ích của mình, nhường đất cho dự án để góp phần xây dựng thành phố mang tên Bác ngày càng hiện đại, phát triển", Chủ tịch Lê Hoàng Quân nhấn mạnh. Để thực hiện dự án này, gần 1.200 hộ dân và hơn 300 đơn vị, cơ quan đã phải di dời.
Clip mô phỏng hành trình của tuyến tàu điện ngầm
Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ GTVT đã gửi lời chúc mừng của Chính phủ đến nhân dân thành phố, đồng thời cũng yêu cầu UBND TP, Sở GTVT cũng như chủ đầu tư và nhà thầu cần nỗ lực để dự án được thực hiện đúng tiến độ đã cam kết, góp phần giảm tai nạn và ùn tắc giao thông trên địa bàn. Đồng thời góp phần vào việc phát triển đô thị và kinh tế xã hội của thành phố.
Phối cảnh tuyến metro số 1.
Theo ông Nguyễn Đô Lương, Trưởng Ban quản lý đường sắt đô thị, cùng với các dự án giao thông trọng điểm khác, tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả lớn cho mục tiêu phát triển giao thông công cộng, giảm ùn tắc giao thông. "Đây sẽ là mạch máu giao thông của một đô thị hiện đại, góp phần vào việc phát triển đô thị và phát triển kinh tế xã hội của thành phố", ông Lương nói. Trong khi đó, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam - ông Yasuaki Tanizaki đánh giá "dự án metro số 1 sẽ là bước ngoặt thay đổi phương tiện giao thông của người dân".
Dự kiến, tuyến metro số 1 sẽ được hoàn thành cuối năm 2017 và chính thức đưa vào sử dụng vào đầu năm 2018. Theo thiết kế, khả năng vận chuyển của tuyến Bến Thành - Suối Tiên là 186.000 khách mỗi ngày, đến năm 2020 vận chuyển được 620.000 khách và vào năm 2040 lên đến 1.020.000 hành khách. Với tốc độ tàu metro chạy từ 40 đến 60km/h trên lộ trình Bến Thành - Suối Tiên dài 19,7 km chỉ mất khoảng 30 phút (cứ 5 phút có một chuyến xuất bến và tàu dừng ở mỗi ga bình quân 1,5 phút để đón và trả khách).
Việc triển khai dự án tuyến metro số 1 còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển đô thị dọc tuyến như quận 2, 9, Thủ Đức (TP HCM) và Thị xã Dĩ An (Bình Dương). Trong tương lai, tuyến metro này có thể được kéo dài đến thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) và đấu nối với tuyến đường sắt liên vùng đến thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương).
Sơ đồ toàn tuyến metro số 1.
Metro là tàu điện chạy trong đô thị có sức vận chuyển khối lượng lớn, là loại tàu điện (giống loại tàu lửa) nhưng chạy bằng điện (không sử dụng đầu kéo Diesel như tàu lửa). Tàu gồm toa có động cơ xen lẫn toa không động cơ chạy bằng điện. Tùy theo lượng hành khách đi lại vào giờ cao điểm mà tàu có từ 3 đến 6 toa và chạy giãn cách khoảng 3 đến 10 phút.
Ngoài tuyến metro số 1, TP HCM dự kiến xây dựng thêm 6 tuyến metro khác gồm:
Tuyến số 2 (Thủ Thiêm - bến xe Tây Ninh) dài khoảng 20 km.
Tuyến số 4 (Nguyễn Văn Linh - cầu Bến Cát) dài 24 km.
Tuyến số 5 (cầu Sài Gòn - bến xe Cần Giuộc) dài khoảng 17 km.
Tuyến số 6 (Bà Quẹo - vòng xoay Phú Lâm) dài 6 km.
Riêng tuyến metro số 3 dài khoảng 23 km được tách làm hai:
Tuyến 3A (Bến Thành - Tân Kiên).
Tuyến 3B (ngã sáu Cộng Hòa - Hiệp Bình Phước).
Hữu Công