Thứ Sáu, 14 tháng 9, 2012

Trung Quốc lập mạng thông tin trên đảo của Việt Nam

Trung Quốc lập mạng thông tin trên đảo của Việt Nam

Nhằm bao phủ mạng lưới thông tin tại các đảo và vùng biển thuộc cái gọi là "thành phố Tam Sa," Cục Quản lý Thông tin tỉnh Hải Nam đang tiến hành xây dựng dự thảo "Quy hoạch các hạng mục xây dựng mạng thông tin thành phố Tam Sa."

Đây là bước đi mới nhất trong một loạt các hoạt động thời gian qua của phía Trung Quốc, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

Theo quy hoạch kể trên, tỉnh Hải Nam sẽ xây mới 51 trạm thông tin tại các đảo, 104 trạm trên các tàu và 8 tuyến cáp quang vượt biển. Hiện nay, quy hoạch này đang trong quá trình chỉnh sửa hoàn thiện.
Một nhóm đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Một nhóm đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
Cục trưởng Cục quản lý thông tin tỉnh Hải Nam, ông Tiết Lương Yên ngang nhiên tuyên bố việc hoàn thiện bao phủ mạng lưới thông tin hải dương "thành phố Tam Sa" sẽ giúp đảm bảo thông tin cho các hoạt động du lịch, nghề cá tại địa phương, có thể phục vụ tốt hơn cho đời sống và phát triển kinh tế của quân đội, nhân dân trên địa bàn "thành phố Tam Sa."

Việc vận hành thương mại mạng di động, điện tín, trạm thông tin và trung tâm Internet hiện đã bao phủ diện tích bán kính 70 km xung quanh đảo Hải Nam, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam và toàn bộ 7 đảo Trung Quốc chiếm đóng và khu vực phụ cận thuộc vùng biển Trường Sa của Việt Nam.

Trước đó, vào ngày 22/7, Công ty truyền thông mạng liên hợp China Unicom Hải Nam đã đưa vào hoạt động trái phép Trạm thu phát sóng di động (BTS) 3G trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Hôm 19/7, cơ quan khí tượng tỉnh Hải Nam cũng thông báo đã có các thiết bị quan trắc khí tượng bằng radar thế hệ mới trên mặt đất và trên không tại đảo Phú Lâm.

Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không được sự đồng ý của Việt Nam là nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam.

Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là trái với Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển đã ký giữa hai nước, không phù hợp với Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như các cam kết duy trì ổn định, hòa bình trên biển.
Theo Vietnam+

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

TT - Với tỉ lệ thu thuế, phí trên GDP mức 26,3% mà báo cáo của Ủy ban Kinh tế Quốc hội vừa công bố, nhiều chuyên gia cho rằng thuế, phí cao đã triệt tiêu động lực tái đầu tư của người dân.
Đặc biệt là các sắc thuế đang đánh trực diện vào nhiều doanh nghiệp.


Sản xuất tủ điện tại Công ty cổ phần Sáng tạo công nghiệp ở Khu công nghiệp Tân Thới Hiệp, Q.12, TP.HCM - Ảnh: THUẬN THẮNG
Các văn bản của Bộ Tài chính cũng như đánh giá của các chuyên gia đều cho thấy thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của VN cần phải giảm xuống.
Nộp từ 25-30%

"Không thể chần chừ nữa, tốt nhất là nên giảm mạnh và giảm ngay thuế TNDN xuống mức 20% hoặc 17% để doanh nghiệp dễ thở, có nguồn tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh"
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan
Theo ông Phạm Thế Anh - quyền viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách công và quản lý Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, người viết chương 2 báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 của Ủy ban Kinh tế Quốc hội, mức thu từ thuế và phí, không kể thu từ dầu thô, của VN hiện nay “rất cao so với các nước khác trong khu vực”. Ông Phạm Thế Anh dẫn chứng thu từ dầu thô đang có tỉ trọng ngày càng giảm dần trong tổng thu ngân sách nhà nước, từ khoảng 6,9% GDP trong năm 2007 xuống còn chưa đầy 3,1% GDP trong năm 2011. Trong khi thu ngân sách ngay cả trong năm kinh tế suy giảm vẫn tăng, ông Thế Anh cho rằng: “Điều này chứng tỏ tỉ trọng các khoản thu khác (trong đó có thuế TNDN - pv) đang ngày càng gia tăng”. Còn theo báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước năm 2009 mà Bộ Tài chính đã công bố, trong tổng thu từ thuế, phí khoảng 418.000 tỉ đồng thì thu từ thuế TNDN đã lên tới 112.100 tỉ đồng. Phân tích quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm của Bộ Tài chính, ông Phạm Thế Anh cho rằng tổng thu thuế và phí của VN đang chủ yếu đến từ ba nguồn chính, gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế TNDN, thuế xuất nhập khẩu và tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu. Trong đó tỉ trọng thuế TNDN vẫn chiếm tới 28% trong tổng thu từ thuế, phí của Nhà nước giai đoạn 2009-2011. Ông Thế Anh cho rằng tổng mức thu thuế của VN cao đã hạn chế khả năng tích lũy, làm giảm đầu tư phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực tư nhân.
Luật sư Trương Thanh Đức, chủ tịch Công ty luật Basico, cho biết cách đây năm năm đã đề nghị giảm mức thuế TNDN. Theo ông Đức, thuế hiện nay của VN không chỉ cao về mức thuế mà còn bị “chặn đầu chặn đuôi, dùng hàng rào kỹ thuật để tăng thu”. Cụ thể với thuế TNDN, mức thuế hiện là 25% nhưng ở nhiều nước các chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế “rộng” hơn, còn VN thì khống chế, như chi phí quảng cáo, tiếp thị chỉ được phép 10% tổng chi phí. “Điều này có nghĩa nhiều doanh nghiệp ở VN có thực chi lớn nhưng cũng không được tính, nên nhiều khi thật ra họ lỗ nhưng vẫn được coi là lãi và vẫn... phải đóng thuế” - ông Đức nhấn mạnh.
Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng, cho rằng ở VN thuế suất là một chuyện nhưng khi thực thi số thuế phải nộp cao hơn nhiều. “Nhìn vào luật thì tưởng chừng đơn giản nhưng tại các văn bản hướng dẫn thì vô vàn các văn bản là thông tư, công văn hướng dẫn”. Bà Lan nhận định mức thuế TNDN của VN về mặt chính thức là 25%, nhưng thực tế số tiền thuế mà hầu hết doanh nghiệp phải nộp là trên 25%, thậm chí lên 30% đối với một số lĩnh vực. “Bởi căn cứ để tính thuế, chi phí hợp lý, hợp lệ đáng lẽ được khấu trừ nhưng người đi thu thuế lại không công nhận. Ở các nước giảm trừ đi nhiều lĩnh vực, như đóng góp xã hội chẳng hạn, còn ở VN cơ quan thuế vẫn tính vào” - bà Lan nói.
Giảm để khuyến khích đầu tư
Tại hội thảo về thuế tiêu thụ đặc biệt và TNDN vào tháng 8-2012, ông Nguyễn Văn Phụng, vụ phó Vụ Chính sách thuế Bộ Tài chính, thừa nhận các quy định trong Luật thuế TNDN về định mức khấu hao không phù hợp thực tiễn, tính khả thi thấp... “Trong thực tế doanh nghiệp có thể phải chi phí khi mua bán với các cá nhân không kinh doanh, với kinh tế hộ gia đình... nên không thể có hóa đơn để tính chi phí hợp lý được trừ thuế” - ông Phụng nói.
Trong văn bản “Chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020” do Bộ Tài chính trình và đã được Thủ tướng phê duyệt, bộ này đã đề nghị giảm mức thuế TNDN. Tuy nhiên, mức giảm rất từ từ, chỉ giảm xuống khoảng 22-23% vào năm 2015, sau đó đến tận 2020 mới giảm xuống còn khoảng 20%. Văn bản cũng cho rằng việc điều chỉnh giảm mức thuế TNDN sẽ giúp thu hút đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy để đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh...
Tư vấn cho VN sửa đổi Luật thuế TNDN, ông Ved P. Gandhi, chuyên gia thuế quốc tế của Ngân hàng Thế giới, cho rằng các nước đang có xu thế giảm mạnh thuế suất nhằm khuyến khích đầu tư. Tại các nước châu Âu, thuế suất bình quân giảm 33% năm 2000 xuống 25% năm 2011, riêng lĩnh vực phi tài chính thì thuế suất chỉ 21%. Gần đây, nhiều nước và lãnh thổ trong khu vực đang có kế hoạch giảm mạnh thuế suất thuế TNDN xuống hơn nữa. Singapore chỉ còn 17%, Đài Loan hiện có mức thuế 23% và dự kiến sẽ giảm còn 20% vào năm 2013...
Ông Ved P. Gandhi khuyến nghị VN nên cải cách phù hợp với những thông lệ quốc tế như không hạn chế các khoản chi phí sản xuất kinh doanh được trừ.
Với tỉ lệ thu thuế, phí trên GDP tới 26,3%, ông Trương Thanh Đức đề nghị cần giảm xuống tương đồng với các quốc gia trong khu vực. Bởi mức thu thuế, phí trên GDP tới 26,3%, theo ông Đức, có nghĩa người dân làm ra tổng giá trị 10 đồng, chưa biết họ lãi được bao nhiêu, Nhà nước đã thu tới hơn 1/4. “Khi tình trạng trốn thuế phổ biến thì phải nghĩ ngay đến thuế đang quá cao. Tôi nghĩ nếu thuế, phí hợp lý hơn, doanh nghiệp sẽ vui vẻ đóng thuế, không tìm mọi cách lách như hiện nay” - luật sư Đức nhấn mạnh.
CẦM VĂN KÌNH - LÊ THANH

Ông Lê Khánh Lâm (phó tổng giám đốc Công ty kiểm toán DTL): Ảnh hưởng đến thu hút đầu tư
Gần đây, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và có kế hoạch giảm hơn nữa. Mức thuế đang áp dụng tại Singapore là 17%, Hong Kong 16,5%. Một số nước còn có ngưỡng miễn thuế ban đầu cao, đánh thuế theo biểu lũy tiến hoặc lũy thoái. Bên cạnh việc giảm thuế suất, họ còn duy trì ưu đãi thuế để khuyến khích kinh doanh và đầu tư...
Trong khi đó, không chỉ áp dụng mức thuế suất cao, từ năm 2009 VN bỏ nhiều chính sách ưu đãi làm ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thực tế sau năm 2009 đầu tư nước ngoài sụt giảm, một trong những nguyên nhân là do thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của VN cao hơn so với các nước láng giềng, đồng thời các chi phí giảm trừ khác cũng bị siết chặt như chi phí quảng cáo khuyến mãi bị giới hạn ở mức 10%. Việc khống chế này đã khiến số thuế thực tế mà các doanh nghiệp phải trả cao hơn nhiều so với mức thuế suất mà thuế thu nhập doanh nghiệp đưa ra.
Để đối phó với chính sách thuế, nhà đầu tư đang dịch chuyển sang các nước trước kia có nhiều hạn chế về cạnh tranh đầu tư với VN như Indonesia, Malaysia, Myanmar... Ngoài ra còn có khuynh hướng doanh nghiệp thu gọn quy mô hoặc đóng cửa công ty, chỉ còn mở văn phòng đại diện tại VN. Vì vậy, đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp xuống 20-22% là phù hợp.
ÁNH HỒNG
Bộ Tài chính: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp liên tục... giảm
Tại buổi họp báo Chính phủ ngày 5-9, trả lời câu hỏi của Tuổi Trẻ về báo cáo kinh tế vĩ mô của ủy ban Kinh tế Quốc hội vừa công bố, trong đó có đánh giá khả năng ứng phó bất ổn vĩ mô của Chính phủ và tỉ lệ huy động thuế trên GDP của VN cao, ông Vũ Đức Đam - bộ trưởng, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ - khẳng định Chính phủ luôn lắng nghe, cầu thị với các góp ý. Ông Đam nhấn mạnh báo cáo ủy ban Kinh tế công bố là báo cáo thường niên, các đánh giá này là quan điểm riêng của tác giả, không phải quan điểm của ủy ban Kinh tế. Trong khi đó, báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 do ủy ban Kinh tế công bố cũng nêu rõ ý trên và cho biết thêm báo cáo được thực hiện trong khuôn khổ dự án “Hỗ trợ nâng cao năng lực tham mưu, thẩm tra và giám sát chính sách kinh tế vĩ mô” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội chủ trì, với sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc tại VN (UNDP).
Về tỉ lệ thuế huy động trên GDP (26,3% như báo cáo của Ủy ban Kinh tế công bố), theo ông Đam, là chưa loại trừ thu từ dầu. Ông Đam cho biết khi Chính phủ hoạch định kế hoạch phát triển kinh tế và các chỉ tiêu kinh tế trình Quốc hội và khi Quốc hội thảo luận đều cởi mở, công khai, cầu thị. Các chỉ tiêu kinh tế đều liên quan đến nhau, như tỉ lệ động viên vào ngân sách và đầu tư.
Bà Vũ Thị Mai, thứ trưởng Bộ Tài chính, trả lời việc tỉ lệ động viên vào ngân sách có ý kiến cho rằng cao, theo đó, bà Mai khẳng định tỉ lệ huy động vào ngân sách của các nước không tính thu dầu thô, thu từ tiền sử dụng đất, trong khi VN có tính cả khoản này. Lấy ví dụ Trung Quốc, bà Mai cho biết báo cáo ủy ban Kinh tế nêu tỉ lệ huy động là 17,3% nhưng Trung Quốc có hai hệ thống thu trung ương và địa phương, trong khi VN tính luôn cả thu ngân sách trung ương và địa phương. Sau khi loại trừ các yếu tố thu từ dầu thô, tiền sử dụng đất, tỉ lệ huy động vào ngân sách của VN, bà Mai tính trung bình cả 20 năm qua và khẳng định chỉ khoảng 12-14% GDP.
Đi vào sắc thuế cụ thể, như thuế thu nhập doanh nghiệp, bà Mai cho biết từ năm 1999 đến nay, thuế suất liên tục giảm. Từ mức 32% xuống 28% (2004), xuống 25% (2009) và hiện nay ngoài mức phổ thông 25%, còn thuế ưu đãi 10%.
Với thuế thu nhập cá nhân, bà Vũ Thị Mai không đi vào con số so sánh cụ thể - trong báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 nêu mức chịu thuế 10% của VN thấp hơn một số nước - mà khẳng định thuế thu nhập cá nhân ở VN đã liên tục điều chỉnh giảm.
CẦM VĂN KÌNH
Thuế “đè bẹp” sức cạnh tranh
Không chỉ khó khăn do thuế TNDN cao, nhiều doanh nghiệp cũng lao đao do tình trạng thuế chồng thuế, cách tính thuế bất hợp lý không khuyến khích được sản xuất trong nước.
Ông Trần Tuấn Anh - tổng giám đốc Công ty thang máy Thái Bình (TP.HCM) - cho biết có một nhà máy sản xuất thang máy tại Khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi và sản phẩm sản xuất ra phân phối trên toàn quốc. Thế nhưng nay với mức thuế, phí cao đang khiến chi phí đầu vào cao và giá thành không cạnh tranh nổi với sản phẩm ngoại nhập. Thậm chí muốn cạnh tranh một cách bình đẳng với các doanh nghiệp nước ngoài mà cũng không thể vì bị đánh thuế cao hơn nhiều lần so với họ.
Thuế suất thuế TNDN ở VN và một số nước, vùng lãnh thổ
Thuế TNDN (%)
Việt Nam 25
Campuchia 20
Singapore 17
Ðài Loan 23
Theo ông Trần Tuấn Anh, mức thuế nhập khẩu đối với một số nguyên liệu nhập về để sản xuất trong lĩnh vực ông sản xuất hiện cao hơn gấp nhiều lần đối với hàng hóa nhập nguyên chiếc. Cụ thể, nếu nhập về nguyên chiếc thang máy thì chịu thuế 5%, còn nếu nhập các phụ kiện về để sản xuất ra chiếc thang máy đó thì thuế tới 10-15%. Thậm chí nút bấm trong thang máy chỉ sử dụng được cho thang máy cũng bị áp mức thuế 15%. Từ đây khiến giá thành đầu vào bị đội lên cao nên hàng hóa sản xuất ra giảm sức cạnh tranh so với hàng ngoại nhập, đặc biệt là thang máy nhập từ Trung Quốc.
Tương tự, ông Vũ Anh Tuấn, giám đốc Công ty chế tạo máy dược phẩm Tiến Tuấn (Khu công nghiệp Tân Bình) cho rằng cách tính thuế cũng như việc áp thuế như hiện nay không những không sát với thực tế mà còn triệt tiêu cả ý chí đầu tư của doanh nghiệp. Đặc biệt là việc áp thuế nhập khẩu các thiết bị, nguyên vật liệu kỹ thuật cao mà VN chưa sản xuất được. Ông Tuấn dẫn chứng sản phẩm môtơ kỹ thuật cao dùng trong lĩnh vực chế tạo máy, thuế suất nhập khẩu áp tới 40%, và áp đến 150% cho phần mềm để lập trình chuyển động môtơ này, dù một số chi cục hải quan hiện nay vẫn chưa có đủ mã số để áp tính thuế cho chủng loại thiết bị này.
Đồng cảnh ngộ như ông Tuấn, ngành sản xuất lốp ôtô trong nước cũng từng “dở khóc dở cười” khi thuế suất nhập khẩu dây curoa thành phẩm là 5%, trong khi để nhập khẩu dây nilông (polyester) để sản xuất ra dây curoa kia cơ quan thuế đã tính ở mức... 30%. “Chúng tôi đã phải lên xuống nhiều lần, kiện tụng không biết bao nhiêu bận thì cơ quan hải quan mới chịu giải quyết, dù chính họ cũng thấy vô lý” - ông Lê Văn Trí, phó giám đốc Công ty cổ phần Cao su miền Nam, thở dài nói.
Theo ông Nguyễn Đức Thuấn - giám đốc điều hành Tập đoàn Thái Bình, để xác lập được một mức thuế TNDN cho phù hợp, điều quan trọng nhất là Chính phủ phải nhìn năng lực cạnh tranh, trình độ phát triển của doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp quốc gia khác ở cùng ngành nghề, lĩnh vực.
“Chính phủ phải nắm được thật chính xác doanh nghiệp VN có lợi thế cạnh tranh gì, họ có thể tạo ra được năng lực cạnh tranh nào để vừa cạnh tranh trên sân nhà, vừa đấu được trên thương trường quốc tế” - ông Thuấn bày tỏ. Với ngành da giày, ông Thuấn cho rằng nếu thuế TNDN dưới 20%/năm sẽ khuyến khích được các doanh nghiệp tập trung vào việc sản xuất các mặt hàng có hàm lượng giá trị gia tăng cao, thay vì chỉ chọn hướng gia công lấy công làm lời.
ĐÌNH DÂN - TRẦN VŨ NGHI

Việt Nam tụt 10 hạng về năng lực cạnh tranh toàn cầu

SGTT.VN - Việt Nam xếp thứ 75/142 về năng lực cạnh tranh toàn cầu, theo một báo cáo mà Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) vừa công bố. So với năm ngoái, Việt Nam đã tụt 10 bậc về năng lực cạnh tranh.
>> Vàng tăng 900.000 đồng, vượt ngưỡng 46 triệu/lượng
>> Tạm nhập tái xuất: Toàn hàng cấm, độc hại
Báo cáo Cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness report 2012-2013) do WEF công bố ngày 5.9 cho thấy, trong 3 năm trở lại đây, Việt Nam liên tục đi xuống về năng lực cạnh tranh, không chỉ cả về thứ hạng mà cả điểm số đánh giá.

Trong 3 năm trở lại đây, Việt Nam liên tục đi xuống về năng lực cạnh tranh, không chỉ cả về thứ hạng mà cả điểm số đánh giá.
Trong xếp hạng năm nay, Việt Nam đạt tổng điểm 4,1 trên mức điểm tuyệt đối là 7, đứng ở vị trí thứ 75 trong tổng số 144 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng, cùng nhóm với một số nước và vùng lãnh thổ như Ukraine, Uruguay, Seychelles, Georgia, Romania…
Trong báo cáo 2011-2012, Việt Nam được 4,2 điểm, xếp ở vị trí 65 trong số 142 quốc gia được WEF đánh giá. Trước đó, báo cáo 2010-2011 của tổ chức này xếp Việt Nam ở vị trí thứ 59 về năng lực cạnh tranh toàn cầu trong số 139 quốc gia được xếp hạng, với điểm số 4,3 điểm.
Ở nhóm nhân tố đánh giá các yêu cầu cơ bản (Basic requirements) - bao gồm các yếu tố về thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, và y tế và giáo dục cơ bản - Việt Nam xếp hạng thấp nhất về môi trường kinh tế vĩ mô, đứng ở vị trí thứ 106. Ở nhóm này, xếp hạng cao nhất dành cho Việt Nam thuộc về tiêu chí chăm sóc y tế và giáo dục cơ bản, với hạng 64. Xếp hạng chung của Việt Nam ở cả nhóm các yêu cầu cơ bản là hạng 91.
Đối với nhóm các yếu tố nâng cao hiệu quả (Effciency enhancers) - bao gồm các yếu tố về giáo dục bậc cao và đào tạo, độ hiệu quả của thị trường hàng hóa, độ hiệu quả của thị trường lao động, mức độ phát triển thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng công nghệ và quy mô thị trường - xếp hạng dành cho Việt Nam là 71. Trong đó, xếp hạng tiểu mục cao nhất dành cho Việt Nam là ở tiêu chí quy mô thị trường, ở hạng 32. Về mức độ sẵn sàng về công nghệ, Việt Nam chỉ đứng ở vị trí thứ 98.
Ở nhóm các yếu tố về năng lực sáng tạo và độ chín kinh doanh, Việt Nam xếp hạng thứ 90 thế giới. Trong đó, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 100 về độ chín kinh doanh và vị trí thứ 81 về năng lực sáng tạo.
Theo số liệu mà WEF đưa ra, Việt Nam hiện có mức GDP bình quân đầu người là 1.374 USD. GDP tính theo đồng giá sức mua của Việt Nam hiện chiếm 0,38% GDP toàn cầu.
Một số nền kinh tế trong khu vực Đông Nam Á có xếp hạng cao hơn Việt Nam như Philippines (vị trí 65), Indonesia (vị trí 50), Thái Lan (38), Brunei (28), Malaysia (25), Singapore (2). Chỉ có 2 quốc gia Đông Nam Á được xếp hạng thua Việt Nam về năng lực cạnh tranh là Campuchia, đứng ở vị trí thứ 85, Timor Leste ở vị trí 136. Lào và Myanmar chưa có tên trong bảng xếp hạng này.
Báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu năm nay của WEF cũng chứng kiến sự xuống hạng của nước Mỹ. Theo đó, nền kinh tế lớn nhất thế giới này tụt 2 bậc, xuống hạng 7 từ hạng 5 trong năm ngoái. Báo cáo cho biết, sự thiếu ổn định kinh tế vĩ mô, tình trạng thiếu niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào Chính phủ Mỹ, cũng như những quan ngại về sức khỏe tài khóa của nước này là một số lý do khiến nước Mỹ xuống hạng về năng lực cạnh tranh.
Thụy Sỹ và Singapore tiếp tục là hai quốc gia có năng lực cạnh tranh mạnh nhất thế giới theo đánh giá của WEF. Theo báo cáo, Thụy Sỹ đạt điểm số cao ở mọi nhân tố đánh giá, nổi bật là hiệu quả của thị trường lao động, độ chín của các doanh nghiệp và năng lực sáng tạo. Thụy Sỹ chính là một trong những nước có số bằng sáng chế tính trên đầu người cao nhất thế giới.
Các quốc gia và vùng lãnh thổ còn lại trong top 10 gồm có Phần Lan, Thụy Điển, Hà Lan, Đức, Mỹ, Anh, Hồng Kông và Nhật Bản.
Trong số các nền kinh tế mới nổi lớn gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc (nhóm BRIC), Trung Quốc là nước có xếp hạng cao nhất, đứng ở vị trí thứ 26. Brazil xếp thứ 53, tiếp theo là Ấn Độ ở vị trí 56 và Nga ở vị trí 66.
5 quốc gia “đội sổ” của xếp hạng theo thứ tự từ dưới lên, lần lượt là Burundi, Sierra Leone, Haiti, Guinea, và Yemen.
Theo VnEconomy.v

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

Nạn nhân của pháp đình

Oằn vai thuế thu nhập cá nhân

Trong khi thu nhập bình quân đầu người của mỗi người dân đứng “đội sổ” so với thế giới, thì thuế thu nhập cá nhân (TNCN) tại VN lại được đánh ở mức khá cao, và kéo dài suốt từ 2009, kể cả khi kinh tế khó khăn, lạm phát dâng cao.

 nộp thuế
Làm thủ tục nộp thuế tại Cục thuế Hai Bà Trưng (Hà Nội) - Ảnh: Ngọc Thắng
Lần đầu tiên báo cáo chuyên đề do Ủy ban Kinh tế Quốc hội chủ trì đã thẳng thắn chỉ rõ, thuế tại VN quá cao đang làm ảnh hưởng đến tích lũy của doanh nghiệp (DN) và tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt là thuế TNCN hiện đang “đánh” vào hơn 15 triệu đối tượng.
Thu nhập thấp, bị đánh thuế cao
Báo cáo khẳng định, khoản thu nhập chịu thuế của người dân VN thấp hơn nhưng lại chịu thuế cao hơn so với Trung Quốc (TQ) và Thái Lan. Cụ thể, với thu nhập 3.451 - 5.175 USD/năm, người VN đã bị áp thuế suất 10%, trong khi cũng với mức thuế suất này con số tương ứng ở Thái Lan và TQ lần lượt là 4.931 - 16.434 USD/năm và 3.801 - 9.500 USD/năm.

Ngay cả với 7 mức thuế suất từ 5% đến 35% được cho là vừa cao vừa dày, thì vừa qua khi trình dự thảo sửa đổi luật, Bộ Tài chính cũng không hề “đả động” gì đến, với lý do đã tăng mức giảm trừ gia cảnh



Một trong những mục tiêu quan trọng của luật thuế là chỉ điều tiết một phần thu nhập của cá nhân có thu nhập trên mức trung bình của xã hội, phần thu nhập còn lại đảm bảo nâng cao đời sống. Tuy nhiên, kể từ khi bắt đầu có hiệu lực 1.1.2009 đến nay, thuế TNCN đã thực sự trở thành gánh nặng của người dân. Thạc sĩ Hà Thị Dương Lan - giảng viên Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính đã chứng minh bằng một nghiên cứu gần đây rằng, số thu từ thuế TNCN đóng cho ngân sách năm 2009 là 14.316 tỉ đồng, bằng 110% so với năm 2008, bằng 3,4% tổng số thu ngân sách nhà nước (NSNN). Bước sang 2010 đã đạt 26.282 tỉ đồng, bằng 183,6% so với 2009, chiếm khoảng 4,7% tổng thu NSNN. Số thu năm 2011 khoảng 37.160 tỉ đồng, bằng 141,38% năm 2010, khoảng 5,5% tổng thu NSNN. Nếu so với GDP, năm 2009 tỷ lệ huy động bằng 0,87%/GDP; năm 2010 là 1,37%/GDP; năm 2011 khoảng 2,03%/GDP.
Số thu từ thuế TNCN tăng nhanh cả về số tuyệt đối, tỷ trọng trên tổng thu, nguyên nhân theo thạc sĩ Lan là do số đối tượng nộp thuế tăng đều đặn từng năm theo từng đợt tăng lương từ 450.000 đồng/tháng năm 2009 lên 830.000 đồng/tháng năm 2011. Ngoài ra, do thu nhập của các hộ gia đình, cá nhân kinh doanh tăng khi chỉ số CPI tăng (năm 2008: 19,9%; năm 2009: 6,52%; năm 2010: 11,75%; năm 2011: 18,13%), nhưng ngược lại mức giảm gia cảnh từ năm 2007 đến nay lại không hề nhúc nhích. Chính vì vậy, sự bao biện trong suốt thời gian qua của cơ quan quản lý trở nên vô nghĩa và chính cơ quan này cũng phải thừa nhận sự lạc hậu của luật để tăng mức giảm trừ khi sửa.
Nhìn lại mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp thuế 4 triệu đồng/người/tháng bằng 1,7 lần thu nhập bình quân GDP đầu người trong một tháng của VN năm 2011 thấy cao hơn nhiều so với TQ (6.404 USD/năm - bằng 1,23 lần GDP bình quân đầu người 2011); tương tự Indonesia 1.830 USD/năm (khoảng 0,527 lần); Malaysia khoảng 2.687 USD/năm (0,312 lần)... Thế nhưng, mức giảm trừ gia cảnh của VN thực tế lại rất thấp vì thu nhập GDP bình quân đầu người của VN chỉ bằng 0,262 lần TQ, bằng 0,257 lần Thái Lan, bằng 0,158 lần Malaysia, bằng 0,392 lần Indonesia và 0,604 lần Philippines.
“Người nộp thuế không phàn nàn gì”?
Ông Đỗ Hoàng Anh Tuấn - Thứ trưởng Bộ Tài chính cho biết, qua thực hiện miễn thuế TNCN bậc 1 tháng đầu tiên (tháng 7.2012) đối tượng hưởng khá lớn, đợt miễn giảm này khoảng 3.600 tỉ đồng, cơ bản người nộp thuế không phàn nàn gì.
Tuy nhiên, theo một tiến sĩ chuyên ngành tài chính, con số trên quá nhỏ và nếu Bộ Tài chính đến hỏi những người đang chịu thuế suất bậc 2 sẽ biết có sự phàn nàn hay không. Ông dẫn số liệu thống kê, số người nộp thuế từ thu nhập từ lương, tiền công ở bậc 1 chiếm tỷ trọng lớn trong số người phải nộp thuế (năm 2009 khoảng 77,3%, năm 2010 khoảng 73,3%, năm 2011 khoảng 77%), nhưng số thuế nộp không lớn so với tổng thuế thu từ lương, tiền công (năm 2009 khoảng 6,9%, năm 2010 khoảng 7%, năm 2011 gần 10%). Số người nộp thuế từ thu nhập từ lương, tiền công ở bậc 2 trở lên không lớn (năm 2009 là 22,7%, năm 2010 là 26,7%, năm 2010 là 23%), nhưng số thuế nộp chiếm tỷ trọng lớn (năm 2009 là 93,1%, năm 2010 là 93%, năm 2011 khoảng 90%). “Đó là lý do vì sao, cứ khi nào khó khăn nhà quản lý chỉ đưa ra mỗi giải pháp giảm thuế bậc 1”, tiến sĩ này nói.
Ngay cả với 7 mức thuế suất từ 5% đến 35% được cho là vừa cao vừa dày, thì vừa qua khi trình dự thảo sửa đổi luật, Bộ Tài chính cũng không hề “đả động” gì đến, với lý do đã tăng mức giảm trừ gia cảnh. Trong khi đó, theo thạc sĩ Lan, việc sửa đổi biểu thuế lũy tiến từng phần (điều 22 luật Thuế TNCN) để khuyến khích người có trình độ kỹ thuật cao, năng lực điều hành giỏi ra sức lao động là rất cần thiết.
Bộ Tài chính đang trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự thảo luật Thuế TNCN với việc nâng mức giảm trừ gia cảnh cho bản thân người nộp từ 4 triệu lên 9 triệu đồng, người phụ thuộc từ 1,6 triệu lên 3,2 triệu đồng. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia khẳng định, dự thảo luật lại sẽ nhanh chóng lạc hậu và bị dư luận phản đối do mức trên sẽ không còn phù hợp cho các giai đoạn tiếp theo sau 2015 khi thu nhập người dân đã khá hơn, mức lương tối thiểu được điều chỉnh. Kể cả khi dự thảo luật bổ sung quy định “mở” - tức giá cả thị trường biến động trên 20% thì Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh cho phù hợp với sự biến động của giá cả, mức lạm phát giai đoạn tới chỉ 15% cũng đủ cho người dân khó sống, chứ không nói 20%.

Cần có thêm ưu đãi cho người nộp thuế khi về hưu
Thu thuế cao nhưng VN không có các chính sách thực sự ưu đãi cho cá nhân người nộp khi về hưu, về già. Trong khi đó, các quốc gia khác thu thấp hơn, ưu đãi quan tâm nhiều hơn. Cụ thể:
Công dân Singapore có thu nhập hằng tháng trên 50 SGD sẽ đóng góp một phần thu nhập vào Quỹ tiết kiệm trung ương (CPF). Tỷ lệ đóng góp tăng theo mức lương và giảm theo độ tuổi. Thuế thu nhập được tính trên lương sau khi đã trừ phần đóng góp cho CPF và một số khoản khác. Tối thiểu 139.000 SGD một người cần được để dành cho mục đích trợ cấp trong vòng 20 năm bắt đầu từ năm 65 tuổi. Nhiều hơn số đó, công dân trên 55 tuổi có thể tự do rút phần dư nếu muốn. Ngoài ra, CPF còn có các gói trợ cấp cả đời cho người dân lựa chọn.
Công dân Hồng Kông từ 18 đến 65 tuổi phải đóng góp 10% (5% nếu lương hằng tháng dưới 6.500 HKD) thu nhập hằng tháng cho Quỹ tiết kiệm bắt buộc (MPF). Không quá 12.000 HKD mỗi năm sẽ được hoàn thuế cho người dân đã có tham gia đóng góp các khoản bắt buộc hằng tháng, trong đó có MPF. Đến tuổi 65, hoặc 60 nếu chọn nghỉ hưu sớm, người dân có thể chọn rút toàn bộ khoản tiết kiệm trên.
Quỹ hưu trí ở Trung Quốc dựa trên hệ thống “3 cột đỡ”: cột 0 tương đương với các khoản bảo hiểm xã hội, cột 1 tương đương với trợ cấp hưu trí căn bản và cột 2 tương đương với phụ cấp hưu trí. Tùy theo tỉnh và thành phố, từ 15 đến 17% lương hằng tháng sẽ nộp vào cột 1, với mức đóng góp tối thiểu là 60% và tối đa là 300% lương trung bình của tỉnh hay thành phố đó. 11% nữa sẽ được nộp vào cột 2, đưa tổng tỷ lệ đóng góp hưu trí tại TQ lên 28%, vào hàng cao nhất thế giới. Các đóng góp trên đều được miễn thuế. Công dân lao động trên 15 năm sẽ được nhận trợ cấp hưu trí căn bản hằng tháng từ cột 1 tương đương 20% lương trung bình của tỉnh và thành phố nơi họ làm việc cộng với một phần phụ cấp bằng tổng số tiền họ đóng góp cho quỹ tiết kiệm chia 120. Công dân lao động chưa đến 15 năm không được nhận trợ cấp từ cột 1 và chỉ nhận lại toàn bộ số tiền mà họ đã đóng góp.  

Hạnh Vân



Miễn thuế thu nhập cá nhân bậc 1 trong 6 tháng

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 60 quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 29 của Quốc hội (QH) về ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho tổ chức và cá nhân.


Theo đó, giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2012 đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), không bao gồm DNNVV kinh doanh trong lĩnh vực xổ số, bất động sản, chứng khoán, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; DN được xếp hạng 1, hạng đặc biệt thuộc tập đoàn kinh tế, tổng công ty.
DNNVV được giảm thuế là DN - kể cả HTX (không bao gồm đơn vị sự nghiệp) - đáp ứng các tiêu chí về vốn hoặc lao động theo quy định của Nghị định 56/2009 về trợ giúp phát triển DNNNV. 
Quy định giảm thuế nói trên cũng được áp dụng với DN sử dụng nhiều lao động (LĐ) trong lĩnh vực sản xuất, gia công, chế biến, như nông sản, lâm sản, thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử; DN sử dụng nhiều LĐ xây dựng công trình hạ tầng kinh tế - xã hội. DN sử dụng nhiều LĐ thuộc đối tượng được giảm thuế nêu trên là DN có tổng số LĐ sử dụng thường xuyên bình quân năm 2012 trên 300 người, không kể LĐ có hợp đồng ngắn hạn dưới 3 tháng. Trường hợp DN tổ chức theo mô hình công ty mẹ - công ty con thì số LĐ làm căn cứ xác định công ty mẹ thuộc đối tượng giảm thuế không bao gồm số LĐ của công ty con.
Nghị định cũng quy định miễn thuế thu nhập cá nhân từ ngày 1.7.2012 đến hết ngày 31.12.2012 đối với cá nhân có thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công và từ kinh doanh đến mức phải chịu thuế  thu nhập cá nhân ở bậc 1 của Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 22 luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Thu nhập tính thuế làm căn cứ xác định việc miễn thuế là thu nhập tính thuế bình quân tháng của cá nhân thực nhận trong năm 2012.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 20.9.2012. 

Bảo Cầm

CƯỠNG CHẾ THU HỒI ĐẤT

Cưỡng chế thu hồi đất là “việc của tỉnh Hưng Yên”

SGTT.VN - Ngày 21.8, tại trụ sở bộ Tài nguyên và môi trường, thứ trưởng bộ này, ông Chu Phạm Ngọc Hiển đã chủ trì buổi đối thoại giữa bộ với hơn 100 người dân, đại diện cho những nông dân Văn Giang mất đất trong dự án xây dựng khu đô thị Văn Giang (tỉnh Hưng Yên).
Ông Hiển nói rằng, đây là cuộc đối thoại để thực hiện lời hứa của bộ trưởng (Nguyễn Minh Quang) là “sẵn sàng đối thoại với dân Văn Giang”, khi phát biểu trước Quốc Hội hơn hai tháng trước.

Nông dân Văn Giang tại hiện trường khu đất bị cưỡng chế ngày 24.4, phía xa là một phần khu đô thị Ecopark. Ảnh: Chí Hiếu
“Chưa có quyết định cưỡng chế thu hồi đất”
Nội dung thời sự nhất mà luật sư Trần Vũ Hải (đại diện pháp lý của các hộ dân) muốn bộ Tài nguyên và môi trường trả lời là: việc cưỡng chế thu hồi đất và hỗ trợ thi công (ngày 24.4) có đúng quy định không, được áp dụng theo điều nào của quy định nào?
Ông Hiển hai lần nhấn mạnh: Việc cưỡng chế thu hồi đất và áp dụng biện pháp hỗ trợ thi công “là việc tỉnh Hưng Yên” chứ không phải của bộ. “Xung quanh việc cưỡng chế ở Văn Giang, Thủ tướng đã có cuộc họp các bộ liên quan và đã có chỉ đạo, thông báo kết luận. Và Thanh tra Chính phủ mới là cơ quan được Thủ tướng giao phối hợp cùng UBND tỉnh Hưng Yên xem xét báo cáo Chính phủ”, ông Hiển nói.
Luật sư Hà Nghi Sơn bổ sung: Việc cưỡng chế ngày 24.4 là cưỡng chế xử phạt hành chính theo quyết định xử phạt hành chính ngày 13.12.2011 của UBND huyện. Thêm vào đó, chưa hề có quyết định thu hồi đất nên đó không thể gọi là cưỡng chế thu hồi đất. Tuy nhiên, theo ông Hiển, nếu khiếu nại các quyết định hành chính thì được thực hiện tại toà án.
Chưa hài lòng, luật sư Hải hỏi tiếp: Nếu bộ không nói đúng hay sai thì hãy nói căn cứ điều khoản nào được áp dụng để cưỡng chế thu hồi và hỗ trợ thi công? Ông Hiển đáp: “Luật Đất đai không hướng dẫn trình tự thủ tục cưỡng chế mà phải theo các luật khác”.
Trả lời thắc mắc của dân vì sao không có quyết định thu hồi đất đến từng hộ dân, ông Hiển cho biết, việc ban hành quyết định thu hồi đất đến từng hộ chỉ áp dụng theo luật Đất đai 2003 (và nghị định 181 năm 2004 về hướng dẫn thực hiện luật Đất đai), trong khi dự án này thực hiện trước khi luật Đất đai 2003 và nghị định có hiệu lực thi hành. “Luật Đất đai 1993 không bắt buộc thu hồi đến từng hộ dân; Luật sửa đổi 2001, quy định thẩm quyền thu hồi đất, giao đất đều cùng một cấp nên trong trường hợp này, quyết định 742 (ngày 30.6.2004) của Thủ tướng về giao đất cho chủ đầu tư đồng thời cũng là quyết định thu hồi đất”, ông Hiển giải thích.
Thủ tục dự án
Liên quan thủ tục dự án mà người dân thắc mắc, ông Hiển khẳng định dự án này được thực hiện đúng thủ tục về ban hành văn bản. “Tỉnh trình bộ ngày 28.6, bộ trình Thủ tướng ngày 29.6; như vậy, về trình tự thời gian là logic, về hồ sơ lưu trữ cũng đầy đủ. Tuy nhiên, trước đó, từ năm 2003 đến tháng 6.2004 các bộ liên quan đã phối hợp với tỉnh để tham mưu thực hiện dự án theo đúng quy định chứ không phải chỉ một ngày là tham mưu được ngay”, ông Hiển nói.
Các hộ dân cho hay: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Văn Giang 2003 “chưa có dòng nào về phát triển khu đô thị Văn Giang”, thì cơ sở nào để bộ Tài nguyên và môi trường tham mưu Chính phủ ra quyết định giao cho chủ đầu tư thực hiện? Ông Hiển lý giải, việc xây dựng khu đô thị Văn Giang đã được xác định, được căn cứ quy hoạch đô thị, đã được tỉnh Hưng Yên phê duyệt quy hoạch chung, xin ý kiến thoả thuận của bộ Xây dựng.
Lập tức, ông Trương Công Tĩnh, (xã Cửu Cao) phản bác: Đến tháng 1.2002 thường vụ Tỉnh uỷ Hưng Yên còn ra quyết định cho ba xã chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo mô hình VAC, vậy nên nếu chỉ một năm sau lại nói đã có quy hoạch (khu đô thị) thì chẳng khác nào lừa dân! Ông Tĩnh muốn đại diện tỉnh Hưng Yên có mặt tại buổi đối thoại là phó chủ tịch Đặng Minh Ngọc lên tiếng, nhưng ông Hiển từ chối yêu cầu này: “Đại diện tỉnh Hưng Yên chỉ được bộ mời đến nghe, chứ đòi (tỉnh) cung cấp ngay thì chưa chắc chuẩn bị được”. Và ông Hiển nhấn mạnh: Thông báo 127 ngày 20.5.2010 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướng có nói: dự án khu đô thị Văn Giang đã được trình, thẩm định theo đúng quy định, phù hợp quy hoạch vùng, quy hoạch của tỉnh.
Chí Hiếu (lược thuật)

VINALINES

Vinalines: Lỗ và lãng phí trên 2 nghìn tỉ đồng

Ông Dương Chí Dũng bị bắt

Được xem như những trụ cột của ngành vận tải biển quốc gia nhưng nhiều thành viên của Tổng công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) kinh doanh thua lỗ, lợi nhuận có được chủ yếu từ bán tài sản.


Những kết luận mới của Thanh tra Chính phủ (TTCP) cho thấy, các tồn tại cũ như mua tàu cũ, nhiều tàu cũ tới mức không thể đăng kiểm được ở Việt Nam, phải treo cờ nước ngoài và việc đầu tư dàn trải... làm TCty lỗ tới trên 1.685 tỉ đồng...

Lặp lại điệp khúc mua tàu cũ, thiệt hại lớn

Kết thúc thanh tra việc chấp hành pháp luật trong công tác quản lý và sử dụng vốn, tài sản tại Vinalines giai đoạn 2007 - 2010, TTCP chỉ ra hàng loạt những tồn tại, sai phạm. Hai trọng tâm trong chiến lược phát triển của TCty là "phát triển nhanh, vững chắc đội tàu biển và hệ thống cảng biển" đều mắc lỗi cơ bản, khiến cho mục tiêu "sớm trở thành tập đoàn hàng hải mạnh trong khu vực... " trở nên xa vời.

Năm 2009, Vinalines lỗ 412,325 tỉ đồng; năm 2010 lỗ 1.273,892 tỉ đồng (không bao gồm 5 đơn vị chuyển từ Vinashin sang). Năm 2007 nợ phải trả là 17.071 tỉ đồng chiếm 65,8%, năm 2010 là 36.599,7 tỉ đồng chiếm 91,4% tổng nguồn vốn. Hiệu quả sử dụng vốn giảm mạnh, tỉ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu từ 14,15% năm 2007 xuống còn âm 14,8% năm 2010.
Để thực hiện kế hoạch phát triển, Vinalines được Chính phủ cho phép áp dụng nhiều chính sách, giải pháp ưu đãi về vốn, về thị trường cũng như được thực hiện cơ chế đặc thù trong đầu tư đăng ký, mua bán tàu biển...

Từ năm 2005 - 2010, Vinalines đầu tư mua 73 tàu, đa số các tàu mua là của nước ngoài, đã qua sử dụng, với năng lực vận tải 2.004.961 DWT, tổng số vốn là 22.853 tỉ đồng. 85% vốn mua tàu là vay thương mại, thậm chí dự án mua tàu Sky, Ocean, Global sử dụng 100% vốn vay...

Qua thanh tra, TTCP kết luận, cơ cấu đội tàu của Vinalines chưa phù hợp với quy hoạch được duyệt, chủ yếu là tàu vận chuyển hàng khô, tàu tải trọng lớn, ít chú ý đến tàu chuyên dùng. Tiến độ đóng mới tàu chậm so với kế hoạch 7 năm, làm tăng chi phí đầu tư.

Hầu hết các dự án được lập sơ sài, nội dung và thực tế thực hiện không thống nhất. Dự án nào cũng nêu hiệu quả kinh tế cao, thời gian thu hồi vốn nhanh, nhưng thực tế có 5/27 tàu đóng mới, 34/73 tàu mua về đưa vào khai thác lỗ, thậm chí có tàu lỗ nặng phải bán.

Ngoài ra, kết luận của TTCP cho thấy Vinalines đã đi vào đúng "vết xe đổ" của Vinashin khi mua hàng loạt tàu cũ. Có 17 tàu trên 15 tuổi không đủ điều kiện đăng ký tại Việt Nam, thậm chí tàu Lively Falcon 30 tuổi vẫn được mua và được Bộ GTVT cho phép đăng ký treo cờ nước ngoài (Mông Cổ, Panama). Điển hình trong số này có đội tàu của Cty cổ phần vận tải dầu khí Việt Nam (Falcon) mua tuổi bình quân là 26 năm và hiện 7/10 tàu treo cờ nước ngoài. Theo TTCP, việc mua tàu cũ không thể đăng ký tại Việt Nam làm xấu đi hình ảnh đội tàu quốc gia, giảm sức cạnh tranh.

Theo xác định của TTCP thì đội tàu của Vinalines thời điểm cao nhất có 149 tàu, thời điểm ít nhất có 100 tàu, nhưng được phân bố dàn trải, phân tán và manh mún ở 18 đơn vị khai thác, trong đó cá biệt có đơn vị chỉ có 1 tàu. (Xem tiếp trang 3)

Đội tàu trên lại chủ yếu để cho thuê định hạn, làm lệch hướng phát triển vận tải biển, chưa bám sát chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để phát triển thị trường vận tải biển phục vụ nền kinh tế quốc dân.

Hậu quả của những bất cập trên không chỉ làm kết quả khai thác đội tàu thấp. Trong giai đoạn 2005 - 2010, riêng việc khai thác của Cty mẹ lỗ 935 tỉ đồng. Ngoài ra, chính việc tổ chức vận tải phân tán, thiếu kinh nghiệm trong điều hành, dẫn đến tình trạng tàu của Vinalines bị nước ngoài bắt giữ phải ngừng hoạt động, người thuê tàu hủy hợp đồng, phát sinh chi phí nộp phạt, tranh tụng. Chỉ mới tính riêng hai vụ việc với tàu Việt NamL Global và tàu từ Vinashin chuyển sang đã gây thiệt hại gần 6 triệu USD.

Để xảy ra những tồn tại trên, TTCP khẳng định trách nhiệm trực tiếp thuộc Chủ tịch HĐQT nay là Hội đồng thành viên và Tổng Giám đốc Vinalines qua các thời kỳ từ 2007 - 2010.

Đầu tư dàn trải, ngập trong lãng phí và vi phạm

Giai đoạn 2007 - 2010, Vinalines đã quyết định đầu tư 14 dự án xây dựng cảng gồm 1 cảng cạn, 1 cảng sông và 12 cảng biển. Quá trình thanh tra, TTCP phát hiện hầu hết các dự án đều xảy ra vi phạm.

Trong đó, đáng chú ý có dự án xây dựng Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong. Đây là dự án nhóm A, có tổng mức đầu tư điều chỉnh là 6.177,6 tỉ đồng. Đến nay, dù chưa có tổ chức tài chính nào bảo đảm vốn đầu tư cho dự án, tuy nhiên Vinalines đã tổ chức lễ khởi công hoành tráng từ ngày 31.10.2009. Điều đáng nói là trong khi quyết định của Thủ tướng chỉ cho phép chi phí tối đa cho việc tổ chức lễ khởi công dự án là 50 triệu đồng thì TCty đã vung tay chi tới 4,114 tỉ đồng (vượt trên 80 lần) cho lễ khởi công này.
Cũng theo xác định của TTCP thì trong dự án này, Vinalines đã chỉ đạo, quản lý việc thiết kế, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán và quản lý thi công các hạng mục công trình không chặt chẽ, trái quy định, làm tăng vốn đầu tư như điều chỉnh dự toán gói thầu số 1 từ 14 tỉ đồng lên 21,6 tỉ đồng và chỉ định đơn vị trúng thầu trong cùng một quyết định; thiết kế không chính xác về chiều dài cọc, quản lý thi công thiếu kiên quyết, dẫn đến khi thi công đóng 115 cọc, thừa từ 2 - 10/cọc, gây lãng phí trên 2 tỉ đồng; nguy cơ mất 146 tỉ đồng tiền tạm ứng thực hiện hợp đồng nhập cọc...

Dự án đầu tư nhà máy sửa chữa tàu Vinalines phía Nam cũng được xác định là có nhiều sai phạm, gây lãng phí lớn. Đây là dự án có tổng mức đầu tư lên đến 3.854 tỉ đồng, nhưng Vinalines quyết định đầu tư khi chưa có quy hoạch. TTCP kết luận việc Vinalines quyết định đầu tư không đúng thẩm quyền.

Chỉ tính riêng việc mua ụ nổi No83M đã 43 tuổi, vượt 28 tuổi so với quy định đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Sau khi mua về phải sửa chữa nhiều lần. Tính đến ngày 30.4.2010, tổng số tiền lãng phí từ phi vụ được xác định là có dấu hiệu làm trái quy định này đã lên tới 489,6 tỉ đồng.

Theo TTCP, chỉ tính hai thương vụ đầu tư Cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong và nhà máy sửa chữa tàu Vinalines phía nam, số tiền lãng phí đã lên đến trên 520 tỉ đồng.

Dự án đầu tư cảng Sài Gòn - Hiệp Phước; các dự án đầu tư xây dựng cảng liên doanh đều được xác định có tồn tại, vi phạm.

Ngoài ra theo TTCP, trong giai đoạn 2007 - 2010, Vinalines đã đầu tư và có vốn góp vào 158 doanh nghiệp. Tuy nhiên vốn đầu tư dàn trải và hiệu quả thấp. Sử dụng 1.000 tỉ vốn trái phiếu trái mục đích...

Theo TTCP, để xảy ra những tồn tại, sai phạm trên, ngoài nguyên nhân khách quan do tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu, có nguyên nhân chủ quan từ sự yếu kém trong công tác quản lý. Đầu tư dàn trải, không đồng bộ. Đến nay, có khoảng 1.836 tỉ đồng đầu tư dang dở không phát huy hiệu quả, gây lãng phí lớn. Trách nhiệm thuộc về tập thể lãnh đạo TCty, đứng đầu là Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc và giám đốc, trưởng các ban quản lý dự án của Vinalines qua các thời kỳ từ 2005 - 2010.

TTCP kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ GTVT và Bộ Nội vụ tổ chức, hướng dẫn các thành viên HĐQT (HĐTV) và Tổng Giám đốc Vinalines thời kỳ 2007 - 2010 kiểm điểm trách nhiệm, tự đề xuất hình thức xử lý để Thủ tướng xem xét, xử lý trách nhiệm người để xảy ra khuyết điểm sai phạm trên.

TTCP cũng kiến nghị Thủ tướng chỉ đạo các bộ liên quan rà soát, sửa đổi nhiều quy định liên quan, khắc phục khoảng trống pháp lý liên quan đến việc xử lý trách nhiệm cũng như quản lý vốn tài sản nhà nước. Đồng thời, chuyển hồ sơ sang Bộ Công an để tiếp tục điều tra làm rõ những vi phạm trong việc đầu tư mua nổi No83M thuộc dự án xây dựng nhà máy sửa chữa tàu biển Vinalines phía nam.

Xung quanh đề án đầu tư 100.000 tỉ đồng phát triển đội tàu biển:
Vấn đề không phải là đầu tư bao nhiêu tiền!

Theo danh mục đầu tư đội tàu biển để phục vụ mục tiêu CNH-HĐH trong đề án đã được Bộ GTVT phê duyệt, giai đoạn 2012 - 2015 cần đầu tư 67 tàu trị giá 30.000 tỉ đồng. Số lượng tàu cần đầu tư trong giai đoạn 2016 - 2020 là 95 tàu với giá trị ước tính lên đến 70.000 tỉ đồng. Danh mục đầu tư đội tàu biển kể trên sẽ "ngốn" đến 100.000 tỉ đồng trong giai đoạn 2012 - 2020. Một số chuyên gia trong lĩnh vực này đã có ý kiến về câu chuyện đầu tư "khủng" này.

Mục tiêu của Bộ GTVT trong đề án CNH - HĐH ngành GTVT là đến năm 2015 có tổng trọng tải tàu đạt xấp xỉ 15 triệu tấn với các đội tàu vận tải quốc tế đủ các chủng loại. PGS-TS Nguyễn Văn Thụ - nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch và Quản lý GTVT - đặt nghi vấn: "Đến hết năm 2011, tổng đội tàu biển của Việt Nam mới đạt trọng tải chưa đến 7 triệu tấn dù đã được đầu tư nhiều trong những năm qua. Trong khi, hầu hết hàng xuất - nhập khẩu (XNK) của Việt Nam do các hãng tàu biển nước ngoài đảm nhận, hãng tàu Việt Nam không cạnh tranh được. Làm thế nào chỉ trong vòng 3 năm đạt được đến năng lực 15 triệu tấn?".

Còn ông Đỗ Xuân Quỳnh - Tổng Thư ký thường trực Hiệp hội Chủ tàu Việt Nam - cho rằng: "Chính phủ đã hoạch định chính sách, chiến lược phát triển vận tải biển. Vận tải biển phải đứng hàng đầu trong đóng góp GDP cả nước, phấn đấu đến năm 2030, các hãng tàu trong nước vận chuyển được 30% hàng hóa XNK của Việt Nam. Vì vậy, theo tôi Bộ GTVT phải làm sao để đạt được những mục tiêu đó chứ không phải đề ra giai đoạn này cần đầu tư bao nhiêu tiền, giai đoạn kia cần đầu tư bao nhiêu tiền".

Theo Duy Thanh

Đội tàu của Tổng công ty Hàng hải VN (Vinalines) hiện hoạt động ì ạch với nhiều tàu bỏ không, bị bắt giữ, vận tải thua lỗ..., thế nhưng dự kiến sẽ chi 100.000 tỉ đồng cho Vinalines phát triển đội tàu biển.

Thời kỳ ông Dương Chí Dũng làm tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) từ năm 2005-2010 đã vung 22.853 tỉ đồng mua ồ ạt tàu cũ.


Ông Dương Chí Dũng bị bắt

Sau hơn 3 tháng bị truy nã, ông Dương Chí Dũng, cựu Cục trưởng Hàng hải, đã bị bắt vào ngày 4/9. Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đang xác minh những người tiếp tay, che giấu cho ông Dũng trong thời gian bỏ trốn.
> Ông Dương Chí Dũng bị truy nã quốc tế/ Sai phạm tại Vinalines dưới thời ông Dương Chí Dũng

Ngay sau khi bắt giữ Dương Chí Dũng, Thượng tướng Trần Đại Quang, Bộ trưởng Bộ Công an đã khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong chiến công này. Bộ Công an kêu gọi những cá nhân, tổ chức có hành vi che dấu, tiếp tay cho Dương Chí Dũng bỏ trốn nếu ra tự thú sẽ được hưởng khoan hồng.
Ông Dương Chí Dũng. Ảnh: Nhật Minh
Ông Dũng, 55 tuổi, được bổ nhiệm làm Cục trưởng Hàng hải vào tháng 2. Trước đó, ông này nhiều năm là Chủ tịch HĐQT, Chủ tịch Hội đồng thành viên Vinalines.
Ngày 18/5, cơ quan điều tra khởi tố bị can, ra lệnh bắt tạm giam 4 tháng với ông Dũng về hành vi Cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Thời điểm nhà chức trách tống đạt các quyết định trên, ông Dũng không có mặt tại cơ quan, nhà riêng. Cùng ngày, Bộ Giao thông đã tạm đình chỉ công tác với ông Dũng để phục vụ công tác điều tra.
Ngay sau đó, Bộ Công an phát lệnh truy nã đặc biệt nghi can này. Cuối tháng 6, lệnh truy nã quốc tế với ông Dũng được Ban Tổng thư ký Interpol đồng ý.
>> Vụ cựu Chủ tịch Vinalines bỏ trốn: Xem xét có lộ thông tin điều tra
>> 'Rút kinh nghiệm vụ ông Dương Chí Dũng bỏ trốn'
>> Diễn tiến việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng
Giữa tháng 7, trước nghi vấn lộ thông tin trong quá trình điều tra, trung tướng Phan Văn Vĩnh (Tổng cục trưởng Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm, Bộ Công an) khẳng định: "Chưa có tài liệu phản ánh việc lộ lọt thông tin hay việc ông Dũng mất nhiều tiền để được "phím" trước".
Theo Thanh tra Chính phủ, trong việc quản lý và sử dụng vốn giai đoạn 2007-2010, Tổng công ty Hàng hải (Vinalines) đã có nhiều khuyết điểm như mua sắm tàu cũ không phù hợp với kế hoạch được phê duyệt, quản lý sử dụng thiếu hiệu quả, dẫn tới kết quả kinh doanh yếu kém… Việc này được xác định có phần trách nhiệm của ông Dũng khi là Chủ tịch HĐQT.
Điều tra vụ việc, cơ quan điều tra phát hiện lãnh đạo Vinalines đã tự ý quyết định đầu tư khi chưa được Bộ Giao thông Vận tải cập nhật dự án vào quy hoạch; chưa trình Thủ tướng xem xét quyết định theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ. Việc làm của ông Dũng, cùng một số người khác được cho là "trái ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng", Luật đầu tư, Luật đấu thầu.
- Tháng 2, việc sửa chữa ụ nổi 83M (mua hơn 14 triệu USD) được cơ quan điều tra cho rằng có dấu hiệu của hành vi tham ô tài sản. Vụ án tham nhũng tại Vinalines được khởi tố. Cơ quan điều tra đã bắt tạm giam ông Trần Hải Sơn (Tổng giám đốc Công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines), Trần Văn Quang (Trưởng phòng kế hoạch Công ty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines), Trần Bá Hùng (cán bộ Hyundai Vinashin) và Phạm Bá Giáp (Giám đốc công ty Nguyên Ân).
Mở rộng điều tra vụ việc, nhà chức trách cho rằng đã phát hiện ông Dũng có hành vi cố ý làm trái quy định nhà nước trong việc mua ụ nổi 83M và phê duyệt dự án nhà máy sửa chữa tàu biển phía Nam.
- Tháng 5, Bộ Công an khởi tố bổ sung thêm tội Cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế vào vụ án đang điều tra.
- Ngày 17 và 18/5, ông Dũng cùng ông Mai Văn Phúc (Vụ phó Vụ vận tải, nguyên tổng giám đốc Vinalines), Trần Hữu Chiều (Phó tổng giám đốc Vinalines, Trưởng ban quản lý dự án nhà máy sửa chữa tàu biển Vinalines phía Nam) bị khởi tố và ra lệnh bắt tạm giam về tội Cố ý làm trái.
Hà Anh

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

METRO TAI TP.HCM


Thứ ba, 28/8/2012, 11:58 GMT+7

'Metro sẽ là mạch máu giao thông của TP HCM'

Sáng nay, trong lễ khởi công tuyến metro đầu tiên của VN, Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng yêu cầu TP HCM thực hiện đúng tiến độ đã cam kết. Dự án này được đánh giá là bước ngoặt thay đổi phương tiện giao thông của TP.
>Khởi công tuyến tàu điện ngầm 2 tỷ USD
>Tuyến tàu điện ngầm 2 tỷ USD trong tương lai

Sáng 28/8, UBND TP HCM đã tổ chức lễ khởi công tuyến tàu điện ngầm số 1 (Bến Thành - Suối Tiên), tuyến tàu điện đầu tiên của cả nước. Tham dự lễ có Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam - ông Yasuaki Tanizaki, lãnh đạo TP HCM, Bình Dương cùng đại diện người dân bị giải tỏa để nhường đất cho dự án.
Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng, cùng lãnh đạo TP HCM bấm nút khởi công dự án tuyến metro số 1 sáng 28/8. Ảnh: Hữu Công.
Theo Chủ tịch UBND TP HCM Lê Hoàng Quân, thành phố đã được xác định là đô thị đặc biệt, là trung tâm kinh tế chính trị xã hội của cả nước. Vì vậy, Nghị quyết của Bộ Chính trị đã ưu tiên xây dựng, phát triển thành phố bền vững. Đây là tuyến tàu điện đầu tiên của cả nước nên quá trình xây dựng đã gặp rất nhiều khó khăn từ vốn, trình độ kỹ thuật cho đến cả chính sách. Nhưng với sự nỗ lực của thành phố, cùng sự hỗ trợ của các bộ ngành và Chính phủ Nhật Bản, dự án đã được chính thức khởi công.
"Thành phố cũng xin cám ơn bà con, những người đã hy sinh lợi ích của mình, nhường đất cho dự án để góp phần xây dựng thành phố mang tên Bác ngày càng hiện đại, phát triển", Chủ tịch Lê Hoàng Quân nhấn mạnh. Để thực hiện dự án này, gần 1.200 hộ dân và hơn 300 đơn vị, cơ quan đã phải di dời.
Clip mô phỏng hành trình của tuyến tàu điện ngầm
Phát biểu tại buổi lễ, Bộ trưởng Bộ GTVT đã gửi lời chúc mừng của Chính phủ đến nhân dân thành phố, đồng thời cũng yêu cầu UBND TP, Sở GTVT cũng như chủ đầu tư và nhà thầu cần nỗ lực để dự án được thực hiện đúng tiến độ đã cam kết, góp phần giảm tai nạn và ùn tắc giao thông trên địa bàn. Đồng thời góp phần vào việc phát triển đô thị và kinh tế xã hội của thành phố.
Phối cảnh tuyến metro số 1.
Theo ông Nguyễn Đô Lương, Trưởng Ban quản lý đường sắt đô thị, cùng với các dự án giao thông trọng điểm khác, tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả lớn cho mục tiêu phát triển giao thông công cộng, giảm ùn tắc giao thông. "Đây sẽ là mạch máu giao thông của một đô thị hiện đại, góp phần vào việc phát triển đô thị và phát triển kinh tế xã hội của thành phố", ông Lương nói. Trong khi đó, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam - ông Yasuaki Tanizaki đánh giá "dự án metro số 1 sẽ là bước ngoặt thay đổi phương tiện giao thông của người dân".
Dự kiến, tuyến metro số 1 sẽ được hoàn thành cuối năm 2017 và chính thức đưa vào sử dụng vào đầu năm 2018. Theo thiết kế, khả năng vận chuyển của tuyến Bến Thành - Suối Tiên là 186.000 khách mỗi ngày, đến năm 2020 vận chuyển được 620.000 khách và vào năm 2040 lên đến 1.020.000 hành khách. Với tốc độ tàu metro chạy từ 40 đến 60km/h trên lộ trình Bến Thành - Suối Tiên dài 19,7 km chỉ mất khoảng 30 phút (cứ 5 phút có một chuyến xuất bến và tàu dừng ở mỗi ga bình quân 1,5 phút để đón và trả khách).
Việc triển khai dự án tuyến metro số 1 còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển đô thị dọc tuyến như quận 2, 9, Thủ Đức (TP HCM) và Thị xã Dĩ An (Bình Dương). Trong tương lai, tuyến metro này có thể được kéo dài đến thành phố Biên Hòa (Đồng Nai) và đấu nối với tuyến đường sắt liên vùng đến thành phố Thủ Dầu Một (Bình Dương).
Sơ đồ toàn tuyến metro số 1.
Metro là tàu điện chạy trong đô thị có sức vận chuyển khối lượng lớn, là loại tàu điện (giống loại tàu lửa) nhưng chạy bằng điện (không sử dụng đầu kéo Diesel như tàu lửa). Tàu gồm toa có động cơ xen lẫn toa không động cơ chạy bằng điện. Tùy theo lượng hành khách đi lại vào giờ cao điểm mà tàu có từ 3 đến 6 toa và chạy giãn cách khoảng 3 đến 10 phút.
Ngoài tuyến metro số 1, TP HCM dự kiến xây dựng thêm 6 tuyến metro khác gồm:
Tuyến số 2 (Thủ Thiêm - bến xe Tây Ninh) dài khoảng 20 km.
Tuyến số 4 (Nguyễn Văn Linh - cầu Bến Cát) dài 24 km.
Tuyến số 5 (cầu Sài Gòn - bến xe Cần Giuộc) dài khoảng 17 km.
Tuyến số 6 (Bà Quẹo - vòng xoay Phú Lâm) dài 6 km.
Riêng tuyến metro số 3 dài khoảng 23 km được tách làm hai:
Tuyến 3A (Bến Thành - Tân Kiên).
Tuyến 3B (ngã sáu Cộng Hòa - Hiệp Bình Phước).
Hữu Công

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012

TRƯỜNG SA - theo tư liệu Wikipedia


Quần đảo Trường Sa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các đảo tranh chấp
Quần đảo Trường Sa
Tên khác: xem phía dưới
Địa lý
Vị trí Biển Đông
Tọa độ 8°38′B 111°55′ĐTọa độ: 8°38′B 111°55′Đ (Trường Sa)
Tổng số đảo khoảng 130 đảo và bãi ngầm
Các đảo chính Ba Bình
Nam Yết
Song Tử Tây
Đảo Sinh Tồn
Trường Sa Lớn
Đá Hoa Lau
Thị Tứ
Đảo Bến Lạc
Diện tích ít hơn 5km vuông
Đường bờ biển 926 kilômét (575 mi)
Điểm cao nhất vị trí chưa được đặt tên Song Tử Tây
Độ cao cao nhất 4 mét (13 ft)
Tranh chấp giữa
Quốc gia  Việt Nam
Tỉnh Khánh Hòa

Quốc gia

 Malaysia
Tiểu bang Sabah

Quốc gia

 Philippines
Tỉnh đảo Palawan

Quốc gia

 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Tỉnh Hải Nam
Quốc gia
 Trung Hoa Dân Quốc
Thành phố Cao Hùng
Quốc gia
 Brunei
EEZ Louisa Reef
Dân cư
Dân số Chưa có số liệu về số người đã định cư tại các đảo
Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; tiếng Trung Quốc: 南沙群岛, Nam Sa quần đảo; tiếng Tagalog: Kalayaan; tiếng Mã Laitiếng Indonesia: Kepulauan Spratly) là nhóm gồm hơn 100 đảo san hô, cồn cát, rạn san hô, bãi cạn và bãi ngầm đang trong tình trạng tranh chấp ở Biển Đông.
Nằm trong Biển Đông, quần đảo Trường Sa được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và giàu có về tài nguyên dầu mỏkhí đốt, hiện vùng mở rộng (diện tích) của nó vẫn còn chưa được biết và đang trong vòng tranh cãi. Việt Nam, Đài LoanTrung Quốc, mỗi nước đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo; trong khi Brunei, MalaysiaPhilippines, mỗi nước tuyên bố chủ quyền nhiều phần. Những nước tham gia tranh chấp này có quân đội đóng trên từng phần của quần đảo Trường Sa và kiểm soát nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đảo đá ngầm khác nhau. Đài Loan chiếm một trong những đảo lớn nhất, đảo Ba Bình. Tháng 2 năm 1995, Trung Quốc chiếm đảo đá ngầm Vành khăn (Mischief reef) từ tay Philippines, gây nên một cuộc khủng hoảng chính trị lớn ở Đông Nam Á, đặc biệt với Philippines. Đầu năm 1999, những cuộc tranh cãi lại tăng lên khi Philippines tuyên bố rằng Trung Quốc đang xây dựng đồn bốt quân sự trên đảo đá ngầm này. Mặc dầu những tranh cãi sau đó đã giảm bớt một chút, nhưng chúng vẫn là một trong những nguyên nhân có thể gây ra một cuộc chiến lớn ở Đông Nam Á với sự tham gia của Trung Quốc hay một cuộc chiến nhỏ hơn giữa các nước tuyên bố chủ quyền khác.

Mục lục

Địa lý và phát triển kinh tế

Quần đảo Trường Sa vốn không có đất trồng trọt và không có dân bản địa. Có khoảng hai mươi đảo, trong đó đảo Ba Bình có diện tích lớn nhất, được coi là nơi cư dân có thể sinh sống bình thường. Các nguồn lợi thiên nhiên gồm: , phân chim, tiềm năng dầu mỏkhí đốt còn chưa được xác định. Ngoài nghề cá, các hoạt động kinh tế khác bị kiềm chế do tranh chấp chủ quyền. Do nằm gần khu vực lòng chảo trầm tích chứa nhiều dầu mỏkhí đốt, quần đảo Trường Sa có tiềm năng lớn về dầu khí. Hiện địa chất vùng biển này vẫn chưa được khảo sát nhiều và chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác. Các khảo sát khác nhằm phục vụ kinh tế và thương mại còn ít thực hiện. Quần đảo Trường Sa hiện chưa có cảng hay bến tàu nhưng có bốn sân bay trên các đảo có vị trí chiến lược nằm gần tuyến đường vận chuyển tàu biển chính trên biển Đông.

Sự có mặt của con người

Biển Đông và vùng Đông Nam Á được Matteo Ricci vẽ trong Khôn Dư Vạn Quốc Toàn Đồ in tại Trung Quốc năm 1602, có ghi dòng chú thích bằng chữ Hán 万里長沙 (Vạn lý Trường Sa).
Dấu ấn sớm nhất ghi lại được của con người với quần đảo Trường Sa là từ khoảng năm thứ 3 trước Công nguyên. Điều này dựa trên một số phát hiện rằng những người đánh cá, đa số là cư dân từ Vương quốc Chăm Pa cổ của Việt Nam hoặc cư dân cổ xuất phát từ đảo Hải Nam và các vùng đất nay là các quận ở tỉnh Quảng Đông đã đến quần đảo Trường Sa, và các đảo khác ở vùng Biển Đông để đánh cá hàng năm. Vào thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, thỉnh thoảng có một số thuỷ thủ từ một số nước lớn châu Âu (gồm hoặc Richard Spratly hoặc William Spratly) đến quần đảo Trường Sa, từ đó quần đảo có tên tiếng Anh là Spratly và tên này được thừa nhận chung, nhưng các nước châu Âu hồi đó còn ít chú ý đến quần đảo này. Đa số các tên tiếng Anh của các đảo, đảo nhỏ và đảo chìm được những ngư dân Việt Nam đặt. Các tàu Đức đến nghiên cứu quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa năm 1883 nhưng cuối cùng đã rút lui sau khi có những phản ứng từ phía nhà Nguyễn của Việt Nam.
Các bản đồ địa lý Việt Nam cổ ghi nhận Bãi Cát Vàng (được dùng để chỉ chung cả Hoàng Sa và Trường Sa) là lãnh thổ Việt Nam từ đầu thế kỷ 17. Trong cuốn "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn, Hoàng Sa và Trường Sa được xác định rõ thuộc về tỉnh Quảng Ngãi (dân binh 2 đội Bắc Hải và đội Hoàng Sa đều do đội Hoàng Sa ở xã An Vĩnh huyện Bình Sơn kiêm quản). Ông miêu tả đó là nơi người ta có thể khai thác các sản phẩm biển và những đồ vật sót lại từ các vụ đắm tàu. Lê Quý Đôn viết: "Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương Quỳnh Châu gửi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Càn Long thứ 18 (1753), có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh tổng Cát Liềm huyện Chương Nghĩa phủ Quảng Ngãi nước An Nam, một ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa (萬里長沙, tức quần đảo Trường Sa) tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, giạt vào Thanh Lan cảng, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán..."[1][2] (10 người dân binh Việt này là đội Bắc Hải phụ trách các đảo từ xứ Bắc Hải (Đông Bắc Biển Đông), cù lao Côn Lôn, và các đảo ở Hà Tiên. Đội Hoàng Sa phụ trách chính ở Hoàng Sa). Tài liệu ghi chép Việt Nam vào thế kỷ 17 nhắc đến các hoạt động kinh tế được tài trợ của chính phủ dưới triều nhà Lê từ 200 năm trước đó. Chúa Nguyễn (ở Đàng Trong) và nhà Nguyễn sau đó đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu địa lý về các đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ 18thế kỷ 19.
Quần đảo Trường Sa (tức Vạn lý Trường Sa, 萬里長沙) được thể hiện trong Đại Nam nhất thống toàn đồ (năm 1834-1840).
Các bản đồ về địa lý cổ của Trung Quốc có vẽ quần đảo Trường Sa nhưng không tỏ rõ các đảo là lãnh thổ Trung Quốc. Trong khi ấy, một nhà sư của đất nước này là Thích Đại Sán (1633 - 1704, hiệu Thạch Liêm, quê ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, đến Phú Xuân vào năm 1695 theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu) đã tỏ hoạt động thực thi chủ quyền của Đại Việt (Việt Nam) đối với quần đảo Trường Sa (và Hoàng Sa) trong tập sách Hải ngoại kỷ sự (quyển 3) của mình. Trích một đoạn sách liên quan:
"Khách có người bảo: mùa gió xuôi trở về Quảng Đông chừng vào độ nửa tháng trước và sau mùa lập thu. Chừng ấy gió Tây Nam thổi mạnh, chạy một lèo gió xuôi chừng 4, 5 ngày đêm có thể đến Hổ Môn [3] Nếu chờ đến sau mùa nắng, gió bấc dần dần nổi lên, nước chảy về hướng Đông, sức gió Nam yếu, không chống nổi dòng nước chảy mạnh về phía Đông, lúc đó sẽ khó giữ được sự yên ổn. Bởi vì có những cồn cát nằm thẳng dọc biển, chạy từ Đông Bắc qua Tây Nam; đống cao dựng đứng như vách tường, bãi thấp cũng ngang mặt nước biển, mặt cát khô rắn như sắt, rủi thuyền đụng phải hẳn tan tành; bãi cát rộng hàng trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể gọi là Vạn lý Trường Sa, mù tít chẳng có cây nhà cửa. Nếu thuyền bị trái gió, trái nước mà lạc vào, dẫu không tan nát cũng không gạo không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt 7 ngày đường, chừng 700 dặm. Quốc Vương trước, hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc từng bãi cát, lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào. Mùa thu nước ròng cạn rút về phía Đông, bị một ngọn sóng đưa đi, thuyền có thể trôi xa hàng trăm dặm; sức gió chẳng mạnh sợ gặp hiểm hoạ Trường Sa".
Cuốn sách Hải ngoại kỷ sự là một tài liệu cổ đáng tin cậy. Nguyên bản in sách này hiện còn được lưu giữ tại Đông Dương Văn khố Nhật Bản và Quốc lập Trung ương đồ thư quán Trung Hoa [4]
Sang thập niên 1930, Pháp tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Chính phủ Bảo hộ đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thay cho Việt Nam, lúc đó đang là nước thuộc địa của Pháp. Họ chiếm đóng một số đảo thuộc Trường Sa, gồm cả đảo Ba Bình, và xây các trạm khí tượng trên hai đảo, và sau đó quản lý chúng như một phần lãnh thổ của Đông Dương thuộc Pháp. Sự chiếm đóng này bị chính phủ quốc gia Trung Quốc phản đối bởi vì theo họ thì khi các tàu chiến của Pháp tới chín đảo thì trên biển có một số ngư dân gốc Trung Quốc đánh cá, theo họ thì các ngư dân này đã xé cờ Pháp sau khi tàu của Pháp rời khỏi đảo. Sau đó, Nhật Bản chiếm một số đảo trong Thế chiến thứ hai, và sử dụng các đảo này làm căn cứ tàu ngầm cho các chiến dịch ở Đông Nam Á. Dưới thời đó, những đảo này được gọi là Shinnan Shoto (新南諸島 - âm Hán Việt: Tân Nam chư đảo, nghĩa là "nhóm đảo mới phía Nam"), cùng với quần đảo Hoàng Sa được đặt dưới sự cai trị của Chính quyền Nhật tại Đài Loan. Sau khi Nhật Bản bị đánh bại, Quốc Dân Đảng tuyên bố chủ quyền toàn bộ quần đảo Trường Sa (gồm cả đảo Ba Bình) và chấp nhận sự đầu hàng của người Nhật. Nhật Bản rút bỏ tất cả các tuyên bố chủ quyền đối với các đảo vào năm 1951 theo Hiệp ước Hoà bình San Francisco. Trong hiệp ước với Trung Hoa Dân quốc, Nhật một lần nữa rút bỏ chủ quyền khỏi các đảo cùng với Hoàng Sa, Đông Sa (Pratas) và các đảo đã chiếm của Trung Quốc. Tuy nhiên, Quốc Dân Đảng đã rút khỏi Trường Sa và Hoàng Sa khi họ bị các lực lượng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối lập đánh bại năm 1949.
Tháng 7/1951, tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản Quốc gia Việt Nam tuyên bố quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc lãnh thổ Việt Nam. Tuyên bố này không bị bác bỏ hay bảo lưu ý kiến nào của 51 nước có mặt tại hội nghị. Tháng 4 năm 1950 Pháp trao lại quyền quản lý quần đảo Trường Sa (và Hoàng Sa) cho chính phủ Quốc gia Việt Nam thời quốc trưởng Bảo Đại nhưng việc đồn trú vẫn do quân đội Pháp đảm nhiệm, và khi người Pháp rời khỏi Việt Nam sau Hiệp định Genève, 1954, quyền kiểm soát thuộc về quân đội Quốc gia Việt Nam và kế tiếp là quân đội Việt Nam Cộng hòa thực hiện chủ quyền đóng giữ Trường Sa. Sau khi Việt Nam thống nhất năm 1975, các lực lượng hải quân của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã tiếp quản từ quân đội Việt Nam Cộng hòa cho đến nay

Tranh chấp chủ quyền

Dấu hiệu đầu tiên cho thấy quần đảo Trường Sa không chỉ đơn giản là một mối nguy cho tàu chở hàng đi qua đó là khi vào năm 1968 người ta tìm thấy dầu mỏ trong vùng. Theo ước tính của Bộ Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vùng quần đảo Trường Sa có chứa trữ lượng dầu và khí đốt tự nhiên rất lớn, lên đến 17,7 tỷ tấn (1,60 × 1010 kg), so với 13 tỷ tấn (1,17 × 1010 kg) của Kuwait, và họ xếp nó vào danh sách một trong bốn vùng có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới. Đương nhiên, tiềm năng trữ lượng dầu khí to lớn này góp phần làm tình hình thêm căng thẳng và thúc đẩy các nước trong vùng tuyên bố có chủ quyền. Ngày 11 tháng 3 năm 1976, cuộc thám hiểm dầu khí lớn đầu tiên của Philippines được tiến hành ngoài khơi Palawan, trong khu vực quần đảo Trường Sa, và các khu khai thác ở đó hiện chiếm năm mươi phần trăm toàn bộ số dầu tiêu thụ tại Philippines.
Các nước tuyên bố chủ quyền không cấp giấy phép khai thác ngoài khơi trong vùng đảo vì sợ gây ra một sự xung đột lập tức. Các công ty nước ngoài cũng không đưa ra bất kỳ một cam kết nào về việc khai thác vùng này cho đến khi tranh cãi về lãnh thổ được giải quyết hay các nước tham gia đạt được thoả thuận chung.
Một động cơ khác để tranh chấp là trữ lượng khai thác cá thương mại của vùng biển quần đảo Trường Sa. Vào năm 1988, Biển Đông chiếm 8% tổng số lượng đánh bắt cá và hải sản của thế giới, một con số chắc chắn còn có thể tăng lên. Trung Quốc đã dự đoán rằng Biển Đông chứa lượng cá và các nguồn dầu mỏ, khí gas tự nhiên có giá trị lên đến một nghìn tỷ đôla. Đã có nhiều cuộc xung đột xảy ra giữa Philippines và các nước khác - đặc biệt là Trung Quốc - về những tàu đánh cá nước ngoài trong Vùng đặc quyền kinh tế của họ và báo chí cũng thường đưa tin về những vụ bắt giữ ngư dân Trung Quốc.
Vùng này cũng là một trong những vùng có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế giới. Trong thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất 270 lượt tàu đi qua quần đảo Trường Sa, và hiện tại hơn một nửa số tàu chở dầu siêu cấp của thế giới chạy qua vùng biển này hàng năm. Lượng tàu chở dầu chạy qua Biển Đông lớn gấp ba lần lượng tàu chạy qua kênh Suez và gấp năm lần lượng tàu qua Kênh đào Panama; gần 20% lượng dầu thô trên thế giới được chuyên chở ngang qua Biển Đông.
Có nhiều ám chỉ rằng Trung Quốc đã sáp nhập và chiếm các đảo không phải chỉ vì mục tiêu khai thác tài nguyên mà còn để giám sát các hoạt động trên biển Đông. Ví dụ, đá Vành Khăn là một điểm lý tưởng để quan sát các tàu của Hải quân Mỹ chạy qua vùng biển phía tây Philippines. Việc Trung Quốc chiếm đảo này cũng có thể có mục đích đối chọi với Đài Loan hơn là với Philippines bởi vì Trường Sa nằm ngang vùng biển thiết yếu của Đài Loan. Đó cũng có thể chỉ đơn giản là một nỗ lực của Trung Quốc nhằm thông báo sự củng cố quyền bá chủ trong vùng của họ.
Một xô xát diễn ra liên quan tới một tàu dân sự vào ngày 10 tháng 4 năm 1983, khi một du thuyền của Đức bị bắn chìm. Không ai bị coi là chịu trách nhiệm về vụ này.
Để trả lời cho những lo ngại ngày càng tăng bởi các nước có bờ biển ở vùng biển quần đảo Trường Sa về sự xâm phạm của các tàu nước ngoài đối với tài nguyên thiên nhiên của họ, Liên hiệp quốc đã họp và ra Công ước Quốc tế về luật biển (UNCLOS) năm 1982 để xác định các vấn đề về các biên giới biển quốc tế. Về những lo lắng trên, chúng được giải quyết rằng một nước có đường bờ biển có thể tuyên bố 200 dặm hàng hải quyền tài phán từ biên giới đất liền của mình. Tuy nhiên UNCLOS không thể giải quyết vấn đề làm thế nào để giải quyết các tranh chấp chồng lấn và vì thế tương lai của quần đảo vẫn còn mờ mịt.
Năm 1984, Brunei lập ra một vùng đặc quyền đánh cá bao gồm cả đảo ngầm Louisa ở phía nam quần đảo Trường Sa, nhưng không công khai tuyên bố chủ quyền hòn đảo. Sau đó, vào năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc một lần nữa lại đụng độ ở biển về quyền sở hữu đảo ngầm Johnson thuộc Trường Sa. Tàu chiến Trung Quốc đánh đắm các tàu chở đội quân đổ bộ Việt Nam. Hai nước bình thường hoá quan hệ vào năm 1991 và Chủ tịch Giang Trạch Dân sau đó đã hai lần viếng thăm Việt Nam, nhưng hai nước vẫn đối đầu về tương lai của Trường Sa.
Năm 1992, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam trao các hợp đồng thăm dò dầu khí cho các công ty Mỹ trên vùng chồng lấn ở Trường Sa; và vào tháng 5 năm 1992, Công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) và Crestone Energy (một công ty Mỹ có trụ sở ở Denver, Colorado) đã ký một hợp đồng hợp tác để cùng thăm dò lô Wan'an Bei-21, một vùng rộng 25.155 km² ở phía tây nam Biển Đông gồm cả các vùng quần đảo Trường Sa. CNOOC cung cấp các dữ liệu về địa chất và các thông tin khác về đáy biển vùng đó trong khi Crestone đồng ý chịu mọi chi phí và tiếp tục tiến hành thăm dò địa chất và khoan trong vùng. Hợp đồng được kéo dài tới năm 1999 sau khi Crestone thất bại trong việc hoàn thành thăm dò. Một phần trong hợp đồng của Crestone bao gồm cả hai block 133 và 134 của Việt Nam nơi Petro Vietnam và ConocoPhillips Vietnam Exploration & Production, một đơn vị của ConocoPhillips, đã đồng ý đánh giá khả năng vào tháng 4 năm 1992. Điều này dẫn tới một sự chạm trán giữa Trung Quốc và Việt Nam, với việc mỗi nước đều yêu cầu rằng bên kia huỷ bỏ hợp đồng của mình. Xung đột cấp độ cao hơn nữa diễn ra đầu năm 1995 khi Philippines tìm thấy một kết cấu quân sự đầu tiên ở đảo ngầm Mischief, 130 dặm biển ngoài khơi Palawan. Việc này thúc đẩy chính phủ Philippines đưa ra một kháng cáo chính thức đối với sự chiếm đóng hòn đảo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Hải quân Philippines bắt giữ sáu mươi hai ngư dân Trung Quốc ở bãi Trăng Khuyết, cách Palawan 80 kilômét. Một tuần sau, sau sự xác nhận của Fidel Ramos về việc ra lệnh tăng cường cho các lực lượng quân sự trong vùng, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố rằng kết cấu đó là các chòi tạm dành cho ngư dân.
Tiếp theo sự tranh cãi đó, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và các nước thành viên ASEAN, với sự môi giới của ASEAN, đã đạt được một thoả thuận rằng một nước sẽ thông báo tới các nước còn lại về hành động quân sự của mình bên trong vùng lãnh thổ tranh chấp và sẽ không tiến hành xây dựng thêm các công trình. Thoả thuận nhanh chóng bị Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Malaysia xâm phạm. Tuyên bố rằng vì bị hư hại do bão, bảy tàu Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến vào vùng đó để sửa "các chòi ngư dân" ở đảo ngầm Panganiban. Malaysia xây dựng một kết cấu trên bãi Thám Hiểm và đổ bộ tại đảo ngầm Rizal, cả hai chỗ này đều nằm bên trong vùng EEZ của Philippines. Để trả đũa Philippines trao phản đối chính thức, yêu cầu dỡ bỏ các kết cấu đó, tăng cường tuần tra hải quân ở Kalayaan và mời các nhà chính trị Mỹ tới giám sát các căn cứ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa bằng máy bay.
Tới năm 1998, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiếp tục sự sáp nhập các đảo của mình, đặt các cột mốc lãnh thổ hay phao trên bãi Suối Ngà và thứ hai, bãi cát Pennsylvania, bãi Trăng Khuyếtđảo san hô vòng Sabina cùng đảo Jackson, vùng quần đảo Trường Sa được đưa vào danh sách một trong tám điểm nóng xung đột trên thế giới. Cuối năm 1998, các căn cứ của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã bao quanh các tiền đồn của Philippines. Một sỹ quan Hải quân hoàng gia Anh phân tích các bức ảnh chụp các kết cấu của Trung Quốc và tuyên bố rằng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa "có lẽ đang chuẩn bị chiến tranh". Quan hệ giữa ManilaBắc Kinh đã xấu đi tới mức sắp xảy tới xung đột.
Đầu thế kỷ 21, như một phần trong chính sách ngoại giao lúc đầu được gọi là "khái niệm an ninh mới" và "sự lớn mạnh của Trung Quốc hoà bình", Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giảm bớt chạm trán ở quần đảo Trường Sa. Gần đây Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến hành thương lượng với các nước ASEAN nhằm mục đích thực hiện đề xuất tự do thương mại giữa 10 nước tham gia. Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và ASEAN cũng đã thoả thuận đàm phán để đưa ra một bộ luật ứng xử nhằm giảm căng thẳng tại các đảo tranh chấp. Ngày 5 tháng 3 năm 2002, một thoả thuận đã ra đời, công bố mong ước của các nước liên quan giải quyết vấn đề chủ quyền "mà không sử dụng thêm nữa vũ lực". Tháng 11 năm 2002, một tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông được ký kết, làm giảm căng thẳng nhưng không phải là một bộ luật ứng xử mang tính bắt buộc.
Bản đồ Biển Đông do người Hà Lan vẽ vào năm 1754 ghi nhận quần đảo Hoàng Sa dưới tên De Paracelles. (Trong giới hạn quần đảo De Paracelles, có 2 nhóm đảo, nhóm đảo phía nam tách rời (không được ghi chú) có hình dạng và vị trí tương đối giống với nhóm đảo Vạn lý Trường Sa (萬里長沙) của Đại Nam nhất thống toàn đồ).
Vào năm 2007, Việt Nam và hãng BP của Anh đang chuẩn bị thực hiện dự án trị giá hai tỷ đôla lắp đặt đường ống dẫn khí đốt thiên nhiên từ hai mỏ khí ở khu vực quần đảo Trường Sa thuộc vùng chủ quyền của Việt Nam đồng thời tổ chức bầu cử Quốc hội Việt Nam khóa XII sẽ được tiến hành ngày 20/5 tại quần đảo Trường Sa thì người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lão Tần Cương nói trong buổi họp báo thường kỳ "Việt Nam áp dụng hàng loạt hành động mới trên quần đảo Nam Sa đã đi ngược với nhận thức chung quan trọng về các vấn đề trên biển" mà hai bên đã đạt được. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương gọi đây là hành động "xâm phạm chủ quyền lãnh thổ cũng như chủ quyền và quyền cai quản của Trung Quốc và Trung Quốc bày tỏ hết sức quan tâm việc này và đã giao thiệp nghiêm khắc với Việt Nam" trong lúc Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đang có chuyến thăm chính thức nước này. Trong khi phía Trung Quốc lại cho các công ty dầu khí, mà điển hình là PetroChina, thăm dò và khai thác dầu khí trong khu vực tranh chấp[5].
Sau đó vào tháng 6 năm 2007 phát ngôn nhân của BP Plc, ông David Nicholas, nói rằng hãng này thấy rằng "nên ngừng kế hoạch khảo sát địa chấn tại lô 5.2 để cho các nước liên quan có cơ hội giải quyết vấn đề". Khu thăm dò địa chấn, lô 5.2, mà BP dự định tiến hành nằm ở giữa Việt Nam và quần đảo Trường Sa, cách bờ biển Việt Nam khoảng 370 km. Tuy nhiên người phát ngôn của BP lại nói với Reuters rằng công việc tại các lô 5.2 và 5.3 là kế hoạch lâu dài chứ không phải trước mắt[6].
Trung Quốc ngày càng gây hấn bằng vũ lực trên quần đảo Trường Sa. Vào tháng 4 năm 2007 Trung Quốc đã bắt 41 ngư dân Việt Nam và chỉ trả tự do cho họ sau khi những người này nộp phạt. Đến ngày 9 tháng 7 tàu Hải quân Trung Quốc đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km làm chìm một thuyền đánh cá của Việt Nam, ít nhất một ngư dân thiệt mạng và một số người khác bị thương. Nguyên nhân chính dẫn tới các mâu thuẫn gữa hai nước là trữ lượng trên 600 triệu thùng của Việt Nam mà Trung Quốc tuyên bố nằm trong vùng biển chủ quyền trong khi giá dầu thô có thể tăng lên đến 100 USD vào cuối năm 2007[7]. Phía Việt Nam cũng đã cho hai tàu chiến cơ động BPS-500 do Nga thiết kế lập tức đến hiện trường nhưng phải đứng từ xa vì hỏa lực quá mạnh từ tàu Trung Quốc. Mặc dù báo chí Việt Nam tránh đưa tin sự kiện trên[8] nhưng sau đó Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng đã đến Bắc Kinh từ 21/7 tới 23/7 để bàn về các vấn đề biên giới, đặc biệt là trên biển[9].

Việt Nam tuyên bố chủ quyền

đảo Song Tử Tây, quần đảo Trường Sa (hiện nay thuộc xã Song Tử Tây, huyện Trường Sa, Khánh Hòa)
Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với đảo dựa trên vị trí lịch sử và trên nguyên tắc thềm lục địa. Các bản đồ địa lý cổ Việt Nam ghi chép Bãi Cát Vàng để chỉ cả Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam từ đầu thế kỷ 17.
Việt Nam đã từng tiến hành nhiều cuộc khảo sát địa lý và tài nguyên trên quần đảo, và kết quả của các chuyến khảo sát đó đã được ghi chép trong văn học và lịch sử Việt Nam và được xuất bản kể từ thế kỷ 17. Hơn nữa, sau một hiệp ước ký kết với triều đại nhà Nguyễn, Pháp đại diện cho các quyền lợi của Việt Nam đối với các công việc quốc tế và đã thi hành chủ quyền trên quần đảo thay cho Việt Nam.
  • Trong bản đồ cổ "Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ" (Toàn bộ bản đồ địa lý của đất nước) do nhà Thanh (Trung Quốc) xuất bản năm 1904, xác định đảo Hải Nam là điểm cực nam lãnh thổ Trung Quốc. Điều đó có nghĩa là các quần đảo ở Biển Đông như Hoàng Sa, Trường Sa nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc. Tấm bản đồ này được lập với khối tư liệu đồ sộ, được nhà vua Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo thực hiện. Nó không chỉ tập trung trí tuệ của các nhà khoa học phương Tây mà cả Trung Quốc, cho thấy tính nghiêm túc, chính thống và giá trị khoa học của người Trung Quốc đối với bản đồ hiện đại đầu tiên được in ấn, làm theo thiết kế, kỹ thuật của phương Tây, đặc biệt với tỷ lệ xích rất chính xác.
Ngày 7 tháng 7 năm 1951, Trần Văn Hữu, chủ tịch phái đoàn chính phủ Quốc gia Việt Nam tới dự Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản tuyên bố rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc lãnh thổ Việt Nam. Tuyên bố này không bị bác bỏ hay bảo lưu ý kiến nào của 51 nước có mặt tại hội nghị. Sau khi Pháp rút đi, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã thi hành chủ quyền trên quần đảo.
Ngày 22 Tháng Tám 1956 Hải quân Việt Nam Cộng hòa tiếp thu đảo Trường Sa, thượng quốc kỳ và dựng trụ đá ghi chủ quyền. Đến ngày 22 Tháng Mười thì chính phủ Việt Nam tuyên bố Trường Sa phụ thuộc tỉnh Phước Tuy.[10]
Ngày 21 tháng 06 năm 2012: Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 bỏ phiếu thông qua Luật Biển, gồm 7 chương, 55 điều. Ngay ở Điều 1 luật đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. [11]
Hiện nay Việt Nam giữ 21 đảo. Chúng được gộp vào thành một huyện thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Philippines tuyên bố chủ quyền

Trong khi Philippines lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc năm 1946, thì sự dính líu nghiêm túc của họ chỉ diễn ra vào năm 1956 khi vào ngày 15 tháng 5 công dân Philippines là Tomas Cloma tuyên bố lập ra một nhà nước mới, Kalayaan (Vùng đất tự do). Kalayaan của Cloma trải rộng trên toàn bộ phía đông Biển Đông, gồm cả toàn bộ quần đảo Trường Sa, đảo Ba Bình, đảo Thị Tứ và đảo Nam Yết, cũng như đảo Bến Lạc, khu trung tâm của cụm Song Tử, đá Kỳ Vân và bãi Thám Hiểm. Sau đó Cloma lập ra một thuộc địa vào tháng 7 năm 1956 với thủ đô là đảo Thị Tứ và Cloma là "Chủ tịch hội đồng tối cao của nhà nước Kalayaan". Hành động này dù không được chính phủ Philippines xác nhận, vẫn bị các nước khác coi là một hành động gây hấn của Philippines và sự phản ứng quốc tế nhanh chóng xảy ra. Đài Loan, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Cộng Hòa, Pháp, AnhHà Lan đưa ra phản kháng chính thức (Hà Lan có liên quan vì họ coi quần đảo Trường Sa là một phần của New Guinea thuộc Hà Lan) và Đài Loan đã gửi lực lượng hải quân tới chiếm các đảo và lập một căn cứ ở đảo Ba Bình, và họ vẫn giữ tới tận ngày nay.
Tomas Cloma và Philippines tiếp tục tuyên bố chủ quyền của họ đối với quần đảo; tháng 10 năm 1956 Cloma tới Thành phố New York để trình bày sự việc trước Liên hiệp quốc và Philippines đã cho đóng quân trên ba đảo từ năm 1968 để bảo vệ các công dân Kalayaan. Đầu năm 1971 Philippines gửi một lưu ý ngoại giao nhân danh Cloma tới Đài Bắc yêu cầu Cộng hoà Trung Hoa rút quân khỏi đảo Ba Bình và ngày 10 tháng 7 cùng năm Ferdinand Marcos thông báo sự sáp nhập nhóm 53 hòn đảo mà họ gọi là Kalayaan, mặc dù cả Cloma và Marcoss không chỉ rõ 53 đảo nào tạo thành Kalayaan, người Philippines bắt đầu tuyên bố chủ quyền ở càng nhiều nơi càng tốt. Tháng 4 năm 1972 Kalayaan chính thức sáp nhập với tỉnh Palawan và được quản lý như một poblacion (khu vực nhỏ), với Tomas Cloma là chủ tịch hội đồng khu vực và tới năm 1992 có 12 cử tri được đăng ký ở Kalayaan. Philippines cũng liên tục cố gắng đổ quân xuống đảo Ba Bình năm 1977 để chiếm đảo nhưng bị quân đội Cộng hoà Trung Quốc đóng trên đảo đẩy lùi. Không có báo cáo về thương vong trong xung đột. Năm 2005, một trạm điện thoại di động được lắp đặt ở đảo Pagasa bởi Smart Communications của Philippines.
Hải quân Việt Nam duyệt binh trước cột mốc chủ quyền Trường Sa
Người Philippines đưa ra res nullius và địa lý làm cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của mình. Cái cho rằng Kalayaan của Philippines là res nullius bởi vì không có nỗ lực giành chủ quyền nào với các đảo cho tới thập niên 1930, khi người Pháp và sau đó là người Nhật chiếm đảo. Khi Nhật Bản tuyên bố rút lui chủ quyền đối với các đảo trong Hiệp ước Hoà bình San Francisco, đã có một sự từ bỏ quyền đối với các đảo mà không có bất kỳ một bên yêu cầu chủ quyền nào. Vì thế, người Philippines cho rằng quần đảo trở thành res nullius và có thể được sáp nhập. Nhà kinh doanh người Philippines Tomas Cloma đã làm đúng điều đó vào năm 1956 và trong khi Philippines không bao giờ chính thức ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Cloma, trong lúc chuyển giao chủ quyền đảo từ Cloma sang Philippines, người Philippines sử dụng đúng quyền tuyên bố chủ quyền như Cloma đã từng làm. Philippines yêu cầu Kalayaan về các căn cứ địa lý có thể tóm tắt bằng cách khẳng định rằng Kalayaan là riêng biệt khỏi các nhóm đảo khác ở biển Đông bởi vì:
"Có sự công nhận chung về thông lệ hải dương học coi một dãy các đảo có tên thuộc về đảo lớn nhất trong nhóm hay có tên dựa theo sự tập hợp chung. Ghi chú rằng Trường Sa (đảo) chỉ có diện tích 13 hectare so với diện tích 22 hectare của đảo Pagasa. Xét về mặt khoảng cách, đảo Trường Sa cách quần đảo Pagasa 210 m. Điều này nhấn mạnh lý lẽ rằng chúng không phải là phần của cùng một dãy đảo. Quần đảo Hoàng Sa còn ở xa hơn (34.5 km tây bắc đảo Pagasa) rõ ràng là một nhóm đảo khác."
Một lý lẽ thứ hai được Philippines sử dụng liên quan tới tuyên bố chủ quyền địa lý của họ đối với Trường Sa là những đảo thuộc phần tuyên bố chủ quyền của Philippines nằm bên trong đường căn bản quần đảo của họ, họ là nước duy nhất có thể tuyên bố như vậy. Hội nghị Liên hiệp quốc về luật biển (UNCLOS) năm 1982 nói rằng các nước bờ biển có thể tuyên bố 200 dặm biển tài phán từ biên giới đất liền của mình. Có thể điều đó có nghĩa rằng trong khi Philippines là một nước đã ký kết vào UNCLOS, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam vẫn chưa tham gia. Philippines cũng viện lý lẽ rằng, theo các điều khoản của Luật biển, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không thể mở rộng đường căn bản của mình tới Trường Sa bởi vì Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa không phải là nước có biển đảo. Việc lý lẽ này (hay bất kỳ lý lẽ nào khác của người Philippines) có được đưa ra trước toà án để tham khảo và tranh cãi hay không còn chưa chắc chắn, khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam còn chưa muốn chứng minh các yêu cầu chủ quyền của mình theo pháp lý và bác bỏ các nỗ lực của Philippines nhằm đưa sự tranh cãi ra trước Toà án biển thế giớiHamburg.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền

Vào năm 1958, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa cũng tuyên bố chủ quyền của mình dựa trên vị trí lịch sử. Sau này họ cho rằng quần đảo Trường Sa đã từng là một phần thuộc Trung Quốc trong gần 2.000 năm và đưa ra các thư tịch cổ có nhắc tới quần đảo Trường Sa và những mảnh đồ gốm Trung Quốc và tiền được tìm thấy ở đó để chứng minh. Sử dụng lý lẽ này, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã tuyên bố rằng Philippines đã "lấy" 410.000 km² biên giới biển truyền thống của họ, lợi dụng lúc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa bị tẩy chay khỏi các công việc quốc tế. Một số nhà phân tích đặt câu hỏi về sự chính xác của các tuyên bố chủ quyền đó, tuy nhiên:
"Sẽ không có tính thuyết phục nếu cho rằng việc tìm thấy các đồng tiền xu thời Hán và các đồ gốm trên quần đảo Hoàng Sa chỉ riêng nó có thể coi là cơ sở chứng minh cho yêu cầu chủ quyền của Trung Quốc vào những năm 1990. Sự hiện diện của những vật đó có thể chỉ đơn giản chứng minh rằng đã có các quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Đông Nam Á hơn là cho thấy sự hiện diện của người Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa đang tranh cãi."[cần dẫn nguồn]
Không có ghi chép chính thức nào về việc người Trung Quốc đã tới đảo và các liên hệ tạm thời của ngư dân không đủ để làm bằng chứng cho bất kỳ một yêu cầu chủ quyền nào dựa trên vị trí lịch sử. Tuy nhiên họ trưng ra nhiều ghi chép chính thức và bản đồ từ thời nhà Hán, nhà Nguyên, nhà Thanh và Cộng hoà Trung Hoa có tính đến quần đảo Trường Sa trong lãnh thổ Trung Quốc.
Năm 1958 Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc công hàm ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận của Trung Quốc. Công hàm này cũng đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 cùng năm.[12] Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, sự công nhận này "đương nhiên có giá trị với toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc" vì báo Nhân Dân trước đó đã đăng bài chi tiết về bản tuyên bố về lãnh hải của chính phủ Trung Quốc, trong đó nói rằng "kích thước lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các vùng lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Đông"[13]. Theo Bộ ngoại giao Việt Nam, Trung Quốc đã diễn giải công hàm của Phạm Văn Đồng một cách "xuyên tạc", khi nội dung công hàm không đề cập đến Hoàng Sa và Trường Sa, không hề tuyên bố từ bỏ chủ quyền với 2 quần đảo này, mà chỉ công nhận hải phận 12 hải lý (22.2 km) của Trung Quốc[14][15][16][17][18]Tiến sĩ Balazs Szalontai, một nhà nghiên cứu về châu Á, cho rằng công hàm không có sức nặng ràng buộc pháp lý.[19]
Ngoài ra, theo phía Trung Quốc, Thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Ung Văn Khiêm đã nói rằng: "Theo dữ liệu của Việt Nam, các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là phần lãnh thổ mang tính lịch sử của Trung Quốc". Một bài giảng về Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trong sách giáo khoa chuẩn của Việt Nam phát hành năm 1974 đã ghi rằng các đảo từ quần đảo Nam Sa và Tây Sa đến Hải Nam và Đài Loan tạo thành bức trường thành bảo vệ lục địa Trung Quốc. Nhiều quốc gia trên thế giới như Hoa Kỳ, Liên Xô, Nhật Bản, Anh, Pháp, Tây Đức, Đông Đức cũng từng phát hành các bản đồ, át-lát địa lý trong đó thể hiện Nam Sa hoặc các quần đảo trên Nam Hải là lãnh thổ Trung Quốc.[13]
Vào tháng 7/2012 ,báo chí Việt Nam đưa ra tấm bản đồ của Nhà Thanh xuất bản năm 1904 trong đó điểm cực nam của Trung Hoa chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam mà không hề có Tây sa hay Nam sa mà Trung Quốc đang cố gắng chiếm giữ. Đây được xem là bằng chứng cho thấy việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền tại Trường Sa và Hoàng Sa là vô căn cứ.[20]

Niên biểu thế kỷ 20

Biển Đông với các khu vực và tài nguyên tranh chấp giữa các nước.
  • 1927 - Tàu SS De Lanessan của Pháp tiến hành một cuộc khảo sát khoa học trên quần đảo Trường Sa.
  • 1930 - Pháp tiến hành cuộc khảo sát thứ hai bằng chiếc La Malicieuse, treo cờ Pháp trên một đảo tên là île de la Tempête (đảo Bão Tố). Ngư dân Trung Quốc có mặt trên đảo nhưng người Pháp cũng không trục xuất họ.
  • 1932 - Trung Hoa Dân Quốc gửi tới chính phủ Pháp một bản ghi nhớ tranh cãi về chủ quyền của họ đối với Trường Sa, dựa trên bản dịch Công ước Pháp-Thanh 1887 kết thúc Chiến tranh Pháp-Thanh.
  • 1933 - Ba tàu Pháp chiếm quyền kiểm soát chín đảo lớn nhất và tuyên bố chủ quyền của Pháp đối với quần đảo. Pháp quản lý vùng Cochinchine. Đế quốc Nhật tranh giành chủ quyền với Pháp về quần đảo, đưa ra bằng chứng về việc khai mỏ phosphat của các công dân Nhật.
  • 1939 - Nhật tuyên bố ý định đặt quần đảo dưới quyền tài phán của họ. Pháp và Anh phản đối và tái xác nhận sự tuyên bố chủ quyền của Pháp.
  • 1941 - Nhật dùng vũ lực chiếm quần đảo và tiếp tục kiểm soát nó tới cuối Thế chiến thứ II, cai quản vùng này như một phần của Đài Loan. Một căn cứ tàu ngầm được thiết lập ở đảo Ba Bình.
  • 1945 - Sau khi Nhật Bản đầu hàng cuối Thế chiến thứ II, Pháp và Cộng hoà Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa. Trung Quốc gửi quân tới đảo và đổ bộ xuống phá bỏ các mốc chủ quyền.
  • 1946 - Pháp gửi tàu chiến tới quần đảo nhiều lần nhưng không tìm cách tấn công các lực lượng Trung Quốc.
  • 1947 - Pháp yêu cầu Trung Quốc rút khỏi quần đảo.
  • 1948 - Pháp ngừng các chuyến tuần tra trên biển gần quần đảo và Trung Quốc rút đa số lính của họ.
  • 1951 - Sau Hội nghị San Francisco năm 1951 về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, các phái đoàn từ Việt Nam, - ở thời điểm đó, vẫn thuộc sự kiểm soát của Pháp – tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • 1954 - Hiệp định Geneva quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Trường Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho Chính quyền miền Nam Việt Nam (quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu) quản lý. Năm 1956, Việt Nam Cộng hòa kế thừa chính quyền Bảo Đại quản lý quần đảo này.
  • 1956 - Tomas Cloma, giám đốc Học viện hải dương Philippines tuyên bố chủ quyền trên đa phần quần đảo Trường Sa, gọi lãnh thổ của ông là "Kalaya'an" ("Vùng đất tự do"). Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, Việt Nam Cộng Hòa, Pháp, Anh và Hà Lan tất cả đều đưa ra phản đối. Cộng hoà Trung Hoa và Việt Nam Cộng Hòa đưa các đơn vị hải quân tới quần đảo, mặc dù Việt Nam không có các đơn vị đồn trú thường xuyên ở đó.
  • 1958 - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đưa ra tuyên bố xác định lãnh thổ biển của họ gồm cả quần đảo Trường Sa. Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc công hàm ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc quyết định về hải phận của Trung Quốc.[21][13]. Ngay sau đó, công hàm này được đăng công khai trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 cùng năm.[22]
  • 1961-1963 - Việt Nam Cộng hòa xây dựng các cột mốc lãnh thổ trên nhiều đảo thuộc quần đảo.
  • 1968 - Philippines gửi quân tới ba đảo để bảo vệ các công dân Kalayaan và tuyên bố sáp nhập nhóm đảo Kalayaan.
  • 1971 - Malaysia đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
  • 1972 - Philippines sáp nhập các đảo Kalayaan vào tỉnh Palawan của họ.
  • 1974 - Việt Nam Cộng Hòa ra tuyên cáo[23] về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • 1975 - Việt Nam Cộng Hòa công bố bạch thư[24] về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời tố cáo Trung quốc tấn công quân lực Việt Nam Cộng Hòa để chiếm quần đảo Hoàng Sa vào ngày 20 tháng 1 năm 1974[25].
  • 1975 - Việt Nam, mới thống nhất, đưa ra tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ quần đảo Trường Sa.
  • 1978 - Một nghị định của tổng thống Philippines phác thảo tuyên bố chủ quyền trên quần đảo.
  • 1979 - Malaysia xuất bản một bản đồ về thềm lục địa tuyên bố của mình, gồm cả mười hai đảo thuộc nhóm Trường Sa. Việt Nam xuất bản sách trắng phác thảo các yêu cầu chủ quyền của mình trên quần đảo và tranh cãi về yêu cầu chủ quyền của các nước khác.
  • 1982 - Việt Nam xuất bản một cuốn sách trắng khác, chiếm nhiều đảo và xây đựng các cơ sở quân sự. Philippines cũng chiếm thêm nhiều đảo và xây dựng một đường băng.
  • 1983 - Malaysia chiếm một đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
  • 1984 - Brunei thiết lập một vùng đánh cá đặc quyền gồm cả đảo chìm Louisa ở phía Nam quần đảo Trường Sa, nhưng không công khai tuyên bố chủ quyền vùng đó.
  • 1987 - Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa tiến hành các chuyến tuần tra hải quân ở quần đảo Trường Sa và thiết lập một căn cứ thường xuyên.
  • 1988 - Tàu của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam đụng độ ở đảo chìm Johnson. Các lực lượng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chiếm và giành quyền kiểm soát vùng đó.

Tổ chức hành chính của Trường Sa

Quần đảo Trường Sa
Philippines đặt các đảo đang kiểm soát vào khu tự quản Kalayaan thuộc tỉnh Palawan, còn Trung Quốc thì đặt quần đảo Trường Sa cùng với quần đảo Hoàng Sabãi Macclesfield thành một cấp gọi là biện sự xứ (tương đương cấp huyện) với tên gọi chính thức là Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ (西南中沙群岛办事处) thuộc tỉnh Hải Nam. Có tin đồn rằng tháng 11 năm 2007, Trung Quốc đã thành lập thị xã Tam Sa quản lý 3 quần đảo này trên Biển Đông. Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Trung Quốc đã tuyên bố chính thức thành lập thành phố Tam Sa[26].

Tổ chức hành chính của Việt Nam

Huyện Trường Sa được thành lập theo Quyết định số 193-HĐBT ngày 9/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam, bao gồm toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa và thuộc tỉnh Phước Tuy. Trước đó quần đảo Trường Sa thuộc huyện Long Đất, tỉnh Phước Tuy. Đến ngày 28/12/1982, huyện Trường Sa được chuyển sang tỉnh Phú Khánh. Sau khi chia tách tỉnh Phú Khánh (30/6/1989), huyện Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Theo Nghị định số 65/2007/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam được ban hành vào tháng 4 năm 2007, huyện Trường Sa (thuộc tỉnh Khánh Hòa) có 3 đơn vị hành chính trực thuộc gồm thị trấn Trường Sa và các xã Song Tử Tây, Sinh Tồn.
Thị trấn Trường Sa được thành lập trên cơ sở đảo Trường Sa lớn và các đảo, đá, bãi phụ cận. Xã Song Tử Tây được thành lập trên cơ sở đảo Song Tử Tây và các đảo, đá, bãi phụ cận. Xã Sinh Tồn được thành lập trên cơ sở đảo Sinh Tồn và các đảo, đá, bãi phụ cận.

Tổ chức hành chính của Trung Quốc

Về mặt hành chính, từ năm 1959, quần đảo Nam Sa quy thuộc Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa (西南中沙群岛办事处 Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ) dưới quyền quản lý của khu hành chính Hải Nam thuộc tỉnh Quảng Đông. Đến năm 1988, khi Hải Nam tách khỏi Quảng Đông để trở thành một tỉnh riêng biệt, Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam. Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc vụ viện Trung Quốc đã chính thức phê chuẩn thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa, thay thế Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa.[27]

Danh sách các đảo theo sự chiếm đóng của các quốc gia

Đặc điểm
Philippines
Tên quốc tế Tên địa phương Miêu tả Diện tích (ha.)
Flat Island Patag (P) Khoảng 10 km về phía tây nam đảo Vĩnh Viễn, là cồn cát phẳng, thấp, kích thước 240mx90m, thay đổi hình dạng theo mùa, hướng gió và sóng, không có cây cỏ, không có nước ngọt. Hiện là trạm quan sát quân sự của thành phố Kalayaan. 0.57
Đảo Phí Tín 费/費信岛 (Trung Quốc)
Đảo Bình Nguyên (Việt Nam)
Lankiam Cay Panata (P) Đã từng có diện tích bề mặt hơn 5 ha nhưng sóng mạnh đã phá bề mặt cát, nay chỉ còn nền lộ ra khi triều thấp. Có đóng quân. 0.44
Cồn cát Dương Tín /Dương Tín Sa châu 杨信沙洲 (Trung Quốc)
Bãi An Nhơn (Việt Nam)
Loaita Island Kota (P) 35 km về phía đông nam đảo Thị Tứ. Đảo cát. Có dừa và một số loại cây nhỏ. Có đóng quân. Chiếm giữ từ năm 1968. 6.45
Đảo Nam Thược 南钥/鑰岛 (Việt Nam)
Đảo Loại Ta (Việt Nam)
Nanshan Island Lawak (P) 157,7 km phía đông đảo Thị Tứ. Là nơi chim sinh sống, có dừa, cây bụi và cỏ mọc. Có đóng quân và một đường băng nhỏ. 7.93
Đảo Mã Hoan 马欢岛, 馬歡島 (Trung Quốc)
Đảo Vĩnh Viễn (Việt Nam)
Northeast Cay Parola (P) Đảo lớn thứ 5 trong quần đảo. Chỉ cách đảo Song Tử Tây 2,82 km và có thể nhìn thấy ở đường chân trời. Cách đảo Thị Tứ 45 km về phía tây bắc. Có cỏ và cây. Có hải đăng từ năm 1984. Có đóng quân, 1 đường băng. Chiếm giữ từ năm 1968. Một phần của bãi đá chìm North Danger. 12.7
Đảo Bắc Tử 北子岛 (Trung Quốc)
Đảo Song Tử Đông (Việt Nam)
Thitu Island Pag-asa (P) Đảo lớn thứ 2 quần đảo. Được che phủ bởi cây và nhiều loại thực vật. Dân cư khoảng hơn 300 người (gồm cả trẻ em) và hơn 40 binh lính. Có một đường băng, một bến tàu, nhà máy lọc nước, nhà máy điện, và một tháp truyền thông thương mại. Chiếm giữ từ năm 1968. 37.2
Đảo Trung Nghiệp 中业/業岛 (Trung Quốc)
Đảo Thị Tứ (Việt Nam)
West York Island Likas (P) Đảo lớn thứ 3 trong quần đảo. Nằm cách đảo Thị Tứ 76km về phía đông bắc. Là nơi rùa biển đẻ trứng, có các loại cây như dừa, ipil-ipil... Có một trạm quan sát và một số binh lính. 18.6
Đảo Tây Nguyệt 西月岛 (Trung Quốc)
Đảo Bến Lạc, đảo Dừa (Việt Nam)
Commodore Reef Rizal (P) Đảo đá cao 0,5 m. Có một số công trình quân sự và binh lính. Chiếm giữ từ năm 1978. 0
Đá ngầm Tư Lệnh, Tư Lệnh tiêu 司令礁 (Trung Quốc)
Đá Công Đo (Việt Nam)
Terumbu Laksamana (M)
Irving Reef Balagtas (P) Đảo chìm, chỉ hiện khi triều thấp, một số binh lính đóng quân. 0
Đá ngầm Hỏa Ngải, Hỏa Ngải tiêu 火艾礁 (Trung Quốc)
Đá Cá Nhám (V)
Shira Islet
Một phần của đảo Song Tử Đông, cách đảo 320 m. ??
Tổng số
7 đảo, 2 bãi đá chìm, 1 đảo nhỏ 83.89
Đài Loan
Tên quốc tế Tên địa phương Miêu tả Diện tích (ha.)
Itu Aba Island Ligaw (P) Đảo lớn nhất quần đảo. Che phủ bởi cây bụi nhỏ, dừa, và mangrove. 600 binh lính đóng quân, hải đăng, các trạm thời tiết và phát thanh, sân bay và giếng nước. Chiếm giữ từ tháng 9 năm 1956, 4 tháng sau khi Philippines tuyên bố chủ quyền. Một phần của cụm Nam Yết. 46
Đảo Thái Bình 太平島 (Trung Quốc)
Đảo Ba Bình (Việt Nam)
Zhongzhou Jiao/Ban Than Reef Trung Châu tiêu 中洲礁 (Trung Quốc) Bãi đá san hô giữa đảo Ba Bìnhđảo Sơn Ca. Có công trình xây dựng và binh lính đóng quân. Chiếm giữ từ năm 1995. Một phần của cụm Nam Yết. 0
Bãi Bàn Than (Việt Nam)
Tổng
1 đảo, 1 bãi đá 46
Việt Nam
Tên quốc tế Tên địa phương Miêu tả Diện tích (ha.)
Amboyna Cay Kalantiaw (P) Gồm 2 phần: phần phía đông gồm cát và san hô, phần phía tây phủ phân chim. Có vành đá ngầm bao quanh. Một chóp đá cao 2,7m ở góc Tây Nam. Ít thực vật. Hải đăng hoạt động từ tháng 5 năm 1995. Phòng thủ chặt chẽ. 1.6
Cồn cát An Ba, An Ba Sa châu 安波沙洲 (Trung Quốc)
Đảo An Bang (Việt Nam)
Pulau Amboyna Kecil (M)
Namyit Island Binago (P) Bao phủ bởi cây nhỏ, cậy bụi và cỏ. Có một vành đá san hô bao quanh và có chim biển sinh sống. Chiếm giữ từ năm 1975. Một phần của cồn Tizard. 5.3
Đảo Hồng Hưu 鸿庥岛 (Trung Quốc)
Đảo Nam Yết (Việt Nam)
Sand Cay Bailan (P) Bao phủ bởi cây và bụi. Vành san hô nổi một phần khi triều thấp. Chiếm giữ từ năm 1974. Một phần của cồn Tizard. 7
Cồn cát Đôn Khiêm, Đôn Khiêm Sa châu 敦谦沙洲 (Trung Quốc)
Đảo Sơn Ca (Việt Nam)
Sin Cowe Island Rurok (P) Có vành đá bao quanh nổi khi triều xuống. Chiếm giữ từ năm 1974. Một phần của cụm Sinh Tồn. 8
Đảo Cảnh Hoành 景宏岛 (Trung Quốc)
Đảo Sinh Tồn (Việt Nam)
Sin Cowe East Island Đảo Sinh Tồn Đông (V) Miêu tả có thể giống với đảo Sinh Tồn. Một phần của cụm Sinh Tồn. 0.8
Southwest Cay Pugad (P) Chỉ cách đảo Song Tử Đông 2,82 km và có thể nhìn thấy ở đường chân trời. Đã từng là nơi đẻ trứng của chim và được phủ bởi cây và phân chim. Việc xuất khẩn phân chim đã từng được thực hiện với quy mô đáng kể. Vành đá bao quanh nổi một phần khi triều lên. Việt Nam dựng ngọn hải đăng đầu tiên trên quần đảo Trường Sa tại đây vào tháng 10 năm 1993, và xây một đường băng. Có một tòa nhà 3 tầng làm nơi đóng quân. Hải quân Việt Nam Cộng hòa được bố trí trên đảo Song Tử Tây từ tháng 2 năm 1974. Hải quân Nhân dân Việt Nam thay thế Hải quân Việt Nam Cộng hòa quản lý đảo Song Tử Tây từ 14/4/1975 đến nay. Một phần của rặng san hô North Danger. 12
Đảo Nam Tử 南子岛 (Trung Quốc)
Đảo Song Tử Tây (Việt Nam)
Spratly Island Lagos (P) Đảo lớn thứ tư của quần đảo. Độ cao 2,5 m, địa hình phẳng. Che phủ bởi cây bụi, cỏ, chim chóc và phân chim. Chòi đá cao 5,5 m ở mũi phía Nam. Có một đường băng và một cảng cá. Vành đá ngầm nổi khi triều xuống. Một số công trình xây dựng và binh lính đóng quân. Chiếm giữ từ năm 1974. 13
Đảo Nam Uy 南威岛 (Trung Quốc)
Đảo Trường Sa (Việt Nam)
Alison Reef Đá ngầm Lục Môn, Lục Môn tiêu 六门礁 (Trung Quốc) Nổi trên mặt nước khi triều xuống. 0
Đá Tốc Tan (Việt Nam)
Barque Canada Reef Mascado (P) San hô. Đỉnh đá cao nhất cao 4,5 m tại mũi Tây Nam. Phần lớn bãi đá nổi khi triều lên. Một số khoảnh có cát. Dài 29 km. Các công trình quân sự mới được nâng cấp gần đây. Chiếm giữ từ năm 1987. 0
Đá ngầm Bách, Bách tiêu 柏礁 (Trung Quốc)
Bãi Thuyền Chài (Việt Nam)
Terumbu Perahu (M)
Bombay Castle
Xem Rifleman Bank 0
Central London Reef Đá ngầm Trung, Trung tiêu 中礁 (Trung Quốc) Phần Tây Nam là một bờ cát chỉ nổi chút ít khi triều lên. Phần còn lại là đá san hô ngập nước bao quanh một đầm nước. Chiếm giữ từ năm 1978. Một phần của cụm đá Luân Đôn. 0
Đảo Trường Sa Đông (Việt Nam)
Collins Reef/ Johnson North Reef Đá ngầm Quỷ Hám, Quỷ Hám tiêu 鬼喊礁 (Trung Quốc) Nối với đá Gạc Ma. Một "cồn san hô" ở góc Đông Nam, nổi khi triều cao. Một phần của cụm Sinh Tồn. 0
Đá Cô Lin (Việt Nam)
Cornwallis South Reef Đá ngầm Nam Hoa, Nam Hoa tiêu 南华礁 (Trung Quốc) Chỉ nổi khi triều xuống. Bao quanh một đầm nước. Chiếm giữ từ năm 1988. 0
Đá Núi Le (Việt Nam)
Great Discovery Reef Paredes (P) Một vài mỏm đá nổi khi triều lên. Phần lớn bãi đá nổi khi triều xuống. Có 1 đầm nước. Chiếm giữ từ năm 1988. 0
Đá ngầm Đại Hiện, Đại Hiện tiêu 大现礁 (Trung Quốc)
Đá Lớn (Việt Nam)
East London Reef Silangan (P) lit. east Bãi đá cao tới 1 m, bao quanh một phá nước. Đóng quân từ năm 1988. Một phần của London Reef. 0
Đá ngầm Đông, Đông tiêu 东礁 (Trung Quốc)
Đá Đông (Việt Nam)
Grainger Bank Bãi Lý Chuẩn, Lý Chuẩn than 李准滩 (Trung Quốc) Độ sâu tự nhiên nơi nông nhất là 9 hoặc 11 m. Đóng quân từ năm 1989. 0
Bãi Quế Đường (Việt Nam)
Higgens Reef Đá ngầm Khuất Nguyên, Khuất Nguyên tiêu 屈原礁 (Trung Quốc) Chỉ nổi khi triều thấp. Một phần của cồn Union. 0
Đá Phúc Sĩ (Việt Nam)
Johnson North Reef
Xem Collins Reef 0
Ladd Reef Đá ngầm Nhật Tích, Nhật Tích tiêu 日积礁 (Trung Quốc) Nổi khi triều thấp. Đóng quân từ 1988. 0
Đá Lát (Việt Nam)
Lan(d)sdowne Reef Đá ngầm Quỳnh, Quỳnh tiêu 琼礁 (Trung Quốc) Cồn cát với vành đá ngầm bao quanh. Một phần của cồn Union. 0
Đá Len Đao (Việt Nam)
Pearson Reef Hizon (P) Hai cồn cát có độ cao 1 và 2 m nằm bên bờ phá nước. Một phần của vành đá bao quanh nổi khi triều cao. Đóng quân từ 1988. 0
Đá ngầm Tất Sinh, Tất Sinh tiêu 毕生礁 (Trung Quốc)
Đảo Phan Vinh (Việt Nam)
Petley Reef Đá ngầm Bạc Lan, Bạc Lan tiêu 舶兰礁 (Trung Quốc) Nổi tự nhiên khi triều xuống, một vài mỏm đá nổi khi triều cao. Đóng quân từ 1988. Một phần của cụm Nam Yết. 0
Đá Núi Thị (Việt Nam)
Pigeon Reef/ Tennent Reef Đá ngầm Vô Khiết, Vô Khiết tiêu 无乜礁 (Trung Quốc) Nhiều mỏm đá nổi tự nhiên khi triều cao. Vành đá bao quanh phá nước. Đóng quân từ 1988. 0
Đá Tiên Nữ (Việt Nam)
Prince Consort Bank Bãi Tây Vệ (Trung Quốc) Độ sâu nơi nông nhất là 9 m. Đóng quân từ 1989. 0
Bãi Phúc Nguyên (Việt Nam)
Rifleman Bank (containing Bombay Castle) Bãi Nam Vi (Trung Quốc) Độ sâu nơi nông nhất là 3 m. Đóng quân từ 1989. 0
Bãi Vũng Mây (Việt Nam)
South Reef Đá ngầm Nại La (Trung Quốc) Nằm tại đầu Tây Nam của North Danger Reef. Vành đá bao quanh nổi khi triều thấp. Đóng quân từ 1988. Một phần của North Danger Reef. 0
Đá Nam (Việt Nam)
Tennent Reef
Xem Pigeon Reef 0
Vanguard Bank Bãi Vạn An (Trung Quốc) Độ sâu nơi nông nhất là 16 m. Đóng quân từ 1989. 0
Bãi Tư Chính (Việt Nam)
West London Reef Đá Ngầm Tây (Trung Quốc) Phần phía đông là cồn cát cao 0.6 m, phía tây là rạn san hô chỉ nổi khi triều xuống. Nằm giữa là phá nước. Việt Nam dựng hải đăng năm 1994. Một phần của London Reefs. 0
Đá Tây (Việt Nam)
Tổng số
7 Đảo, 16 bãi đá chìm, 3 bãi ngầm 47.7
Malaysia
Tên quốc tế Tên địa phương Miêu tả Diện tích (ha.)
Ardesier Reef Bãi An Độ (Trung Quốc) Nhô tự nhiên trên mặt nước khi thủy triều xuống. Bao quanh một đầm nước. Có vài bãi cát. Một ít binh lính đồn trú. Chiếm đóng từ năm 1986. 0
Bãi Kiêu Ngựa (Việt Nam)
Terumbu Ubi (M)
Dallas Reef Đá ngầm Quang Tinh (Trung Quốc) Nhô tự nhiên trên mặt nước khi thủy triều xuống. Bao quanh một đầm nước. Một ít binh lính đồn trú. Malaysia cũng đang sử dụng bãi đá ngầm này cho du lịch. 0
Đá Suối Cát (Việt Nam)
Terumbu Laya (M)
Erica Reef Boji Jiao (C) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Ở mé đông, vài mỏm đá nằm riêng lẻ nhô trên mặt nước khi nước dâng. 0
Terumbu Siput (M)
Đá Én Ca (V)
Investigator Shoal Yuya Jiao (C) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Vài mỏm đá lớn, ở cuối hướng đông, có thể nhìn thấy khi nước dâng cao. Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Bao quanh một đầm nước. 0
Bãi Thám Hiểm (Việt Nam)
Terumbu Peninjau (M)
Louisa Reef Đá ngầm Nam Thông (Trung Quốc) Mỏm đá cao 1 mét. Malaysia quản lý một ngọn hải đăng ở đây. 0
Terumbu Semarang/ Barat Kecil (M)
Mariveles Reef Mariveles (P) Một cồn cát, cao 1,5-2m, bao quanh bởi hai đầm nước, có những nơi nhô trên mặt nước khi thủy triều dâng. Một ít binh lính đồn trú. Chiếm đóng từ năm 1986. 0
Đá ngầm Nam Hải (Trung Quốc)
Đá Kỳ Vân (Việt Nam)
Terumbu Mantanani (M)
Swallow Reef Đá ngầm Đạn Hoàn (Trung Quốc) Một cồn trơ trụi cây cỏ và những mỏm đá cao đến 3 mét bao quanh một đầm nước. Malaysia đã vẽ lãnh hải chung quanh đảo này và Cồn Amboyna (Emboyna Cay). Có khoảng trên 70 binh lính đồn trú bảo quản một giàn hải tiêu. Có một cảng đánh cá và chỗ giải trí (bơi) lặn gồm 15 phòng, kể cả một phi đạo dài 1,5 cây số. Đất và cây được mang đến đây, nơi từng xem là "bốn dặm chỉ toàn những bãi biển trơ trụi và các bãi đá ngầm san hô." Chiếm đóng năm 1983.[cần dẫn nguồn] 6.2
Đá Hoa Lau (Việt Nam)
Terumbu Layang Layang (M)
Total
1 đảo nhân tạo, 5 bãi đá chìm, 1 bãi cạn 6.2
Trung Quốc
Tên quốc tế Tên địa phương Miêu tả Diện tích (ha.)
Cuarteron Reef Đá ngầm Hoa Dương-華陽礁 (Trung Quốc) Chỉ có đá san hô. Cao nhất là 1,5 mét, về hướng bắc. Chiếm đóng từ 1988. Một phần của bãi đá ngầm London (London Reefs). 0
Đá Châu Viên (Việt Nam)
Fiery Cross Reef/ Northwest Investigator Reef Kagilingan (P) Mỏm đá cao đến 1 mét. Tất cả chìm dưới nước khi thủy triều dâng, nhưng có phân chim kết tụ. Trung quốc đã xây một cảng hải quân bằng cách nổ phá san hô, dồn thành đống, và xây bằng xi măng, nhưng họ nói rằng không có binh lính đồn trú ở đó. Rộng 8.080 dặm vuông, dài 14 dặm, có phi đạo. Trạm quan sát hàng hải được xây năm 1988; trồng dừa, linh sam, và banyan. Thực ra có 3 bãi đá ngầm. Chiếm đóng từ năm 1988. 0
Đá ngầm Vĩnh Thử -永暑礁 (Trung Quốc)
Đá Chữ Thập (Việt Nam)
Gaven Reefs Đá ngầm Nam Huân (南熏礁 -Northern reef) / Xinan or Duolu Jiao (S. reef) (Trung Quốc) Một đụn cát, cao 2 mét. Gồm một vành đá ngầm cộng thêm một bãi đá ngầm cách 2 dặm về phía nam, cả hai đều chìm dưới nước khi thủy triều dâng. Bây giờ hoàn toàn là xi măng và một giàn kim loại được dựng lên, với những căn nhà 2 tầng được xây trên đó. Bãi đá ngầm phía nam bị Trung quốc chiếm ngày 4 tháng 7 năm 1992. Chiếm đóng từ năm 1988. Một phần của cồn Tizard. 0
Đá Ga Ven (Việt Nam)
Johnson South Reef Mabini (P) Nằm tiếp cận với bãi đá ngầm Cô Lin (Collins Reef) do Việt Nam giữ cách đó 4 dặm (6 cây số) phía tây bắc. Nhô tự nhiên trên mặt nuớc chỉ khi thủy triều xuống, nhưng [9] cho rằng nhiều mỏm đá nhô trên mặt nước khi thủy triều dâng. Đây là nơi xảy ra trận đánh năm 1988 giữa Trung quốc và Việt Nam. Chiếm đóng từ năm 1988. Cả 2 là một phần của cồn Union. 0
Đá ngầm Xích Qua-赤瓜礁 (Trung Quốc)
Đá Gạc Ma (Việt Nam)
Kennan Reef Đá ngầm Tây Môn (Trung Quốc) Tối thiểu cũng nhô tự nhiên trên mặt nước khi thủy triều xuống. Chiếm đóng năm 1988. Một phần của cồn Union. 0
Đá Ken Nan (Việt Nam)
Mischief Reef Panganiban (P) Vài mỏm đá nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Có một cái đầm. Vào tháng 2 năm 1995, Trung quốc đã từng xây dựng hệ thống trú phòng (a complex) bằng gỗ trên những cột trụ, bắt đầu chính thức việc chiếm đóng đảo này. Năm 1999, Philippines phản đối việc xây dựng ấy và cho rằng đó là một đồn quân sự, đe dọa an ninh và quốc phòng của Philippines, vì nó chỉ cách Palawan 130 dặm (209 cây số). Trung quốc khai rằng nó chỉ là một nơi trú ngụ cho ngư dân. 0
Đá ngầm Mỹ Tế (Trung Quốc)
Đá Vành Khăn (Việt Nam)
Northwest Investigator Reef
See Fiery Cross Reef 0
Subi Reef Đảo Chử Bích (Trung Quốc) Nằm 16 dặm (26km) tây nam của đảo Thị Tứ do Philippines chiếm đóng. Nhô tự nhiên trên mặt nước khi thủy triều xuống. Bao quanh một đầm nước. Trung quốc đã xây những căn nhà 3 tầng, bến tầu, và một bãi đáp trực thăng. 0
Đá Xu Bi (Việt Nam)
Whitson Reef Bãi Ngưu Ách (Trung Quốc) Vài mỏm đá nhô tự nhiên trên mặt nước khi thủy triều dâng. Một phần của cồn Union. 0
Đá Ba Đầu (Việt Nam)
Hughes Reef Dongmen Jiao (Trung Quốc) Chỉ nổi khi triều thấp. Đóng quân từ 28 tháng 2 năm 1988[28]. Một phần của cồn Union. 0
Đá Tư Nghĩa (Việt Nam)
Tổng số
9 bãi đá chìm 0
Chưa nước nào đóng quân
Chưa đóng quân nhưng chủ yếu do Philippines kiểm soát
Những bãi đá ngầm, vũng cát , v.v…, phía đông kinh tuyến 116 được bảo vệ chặt chẽ bởi không quân và hải quân Phi Luật Tân (Philippines). Mặc dù không chiếm đóng, Philippines hiển nhiên nắm sự kiểm soát toàn vùng này, nơi cách bờ biển phía tây của Palawan dưới 100 dặm (160 cây số) (ngoại trừ Scarborough Shoal cách Zambales 100 dặm (160 cây số)). Có nhiều ngư dân Phillipines trong vùng này, họ hợp tác chặt chẽ với hải quân Philippines. Ngư dân không phải người Phillipines được phép vào vùng này nếu họ tuân thủ luật pháp của Philippines. Truyền thông Philippines đã tường thuật nhiều vụ hải quân Philippines bắt giữ ngư dân Trung quốc, vì sử dụng các phương thức đánh cá trái phép và đánh bắt những loài sinh vật biển có nguy cơ tuyệt chủng, cả trong vùng này lẫn biển Sulu (Sulu Sea). Sự hiện diện của quân sự Philippines trong vùng được gia tăng sau biến cố Mischief Reef. Không lực Philippines đã và đang tích cực việc không tập ngay cả đối với những bảng đánh dấu được dựng lên bởi các quốc gia khác để hướng dẫn lực lượng hải quân của họ trong vùng.
Tên quốc tế Tên địa phương Miêu tả Diện tích (ha.)
Bombay Shoal Bãi đá ngầm Bồng Bột (Trung Quốc) Một ít mỏm đá lộ ra khi thủy triều xuống. Bao quanh một đầm nước. 0
Boxall Reef Niuchelun Jiao (Trung Quốc) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. 0
Brown Reef

0
Carnadic Shoal

0
Glasgow Bank

0
Half Moon Shoal Banyue Jiao (Trung Quốc) Một ít mỏm đá phía đông nhô cao một đến hai bộ (feet) khi thủy triều lên. Bao quanh một đầm nước. 0
Bãi Trăng Khuyết (Việt Nam)
Hardy Reef Banlu Jiao (Trung Quốc) Nhô tự nhiên trên mặt nước khi thủy triều xuống. Bao quanh một dãi cát hẹp. 0
Hopkins Reef

0
Investigator Northeast Shoal

0
Iroquois Reef Houteng Jiao (C) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. 0
Leslie Bank

0
Lord Auckland Shoal

0
Pensylvania North Reef

0
Pensylvania South Reef

0
Reed Tablemount (including Nares Bank and Marie Louise Bank)
Lile Tan (C) Chiều sâu tự nhiên chỗ cạn nhất là 9 mét. Có diện tích khoảng 2.500 dặm vuông (6.500 km²). Philippines chiếm đóng vùng này năm 1971 và một sự hợp tác thăm dò dầu khí giữa Philippines và Thụy Điển đã tiếp diễn sau đó. Tuy nhiên, Trung quốc đã phản đối hành động này của Philippines, cho rằng trung tâm vùng Tablemouth, nằm cách Philippines 100 dặm (160 km) là một phần của lãnh hải Trung quốc. Sau đó, Philippines đã cố gắng mời Trung quốc vào một nỗ lực hợp tác (thăm dò mỏ dầu) nhưng Trung quốc cự tuyệt và lý luận rằng Philippines không có chủ quyền trên vùng đảo này. Hiện tại, tuy không có quốc gia nào đóng chiếm vùng đảo ấy nhưng chủ yếu vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Philippines. 0
Bãi Cỏ Rong (V)
Royal Captain Shoal Jiangzhang Ansha (C) Vài mỏm đá nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Bao quanh một đầm nước. 0
Sandy Shoal

0
Seahorse Shoal

0
Templar Bank

0
Chủ quyền chưa chắc chắn
Một số nguồn nói rằng đang do Việt Nam hoặc Trung Quốc chiếm giữ, nhưng đa số nguồn cho rằng chưa bị nước nào chiếm giữ.
Tên quốc tế Tên địa phương Miêu tả Diện tích (ha.)
Discovery Small Reef Xiaoxian Jiao (C) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Vài nơi cho rằng đảo thuộc về Việt Nam. 0
Đá Nhỏ (V)
Eldad Reef Beting Burgai (P) Chỉ vài mỏm đá lớn nhô tự nhiên trên mặt nước khi thủy triều dâng. Một phần của cồn Tizard. Vài nơi cho rằng đảo thuộc về Trung quốc và vài nơi nói thuộc về Việt Nam.
0
Anda Jiao (C)
Loaita Cay Nanyao Shazhou (C) Một đụn cát, với vành đá ngầm nhô trên mặt nước khi thủy triều dâng. Đừng lẫn lộn với đảo Loaita (Loaita Island). Vài nơi cho rằng đảo thuộc Trung quốc. ??
chưa rõ tên (V)
Loaita Nan/ Loaita Southwest Reef Shuanghuang Shazhou (C) Chưa bao giờ nhô trên mặt nước. Vài nơi cho rằng đảo thuộc Trung quốc. 0
chưa rõ tên (V)
North Reef Dongbei Jiao (C) Cuối hướng đông bắc của bãi đá ngầm North Danger (North Danger Reef). Nhô tự nhiên trên mặt nước khi thủy triều xuống. Một phần của bãi ngầm North Danger. Vài nơi cho rằng đảo thuộc về Trung quốc và vài nơi nói thuộc về Việt Nam. 0
Owen Shoal Aoyuan Ansha (C) Chiều sâu tự nhiên chỗ cạn nhất là 6 mét. Vài nơi cho rằng đảo thuộc về Việt Nam. 0
Prince of Wales Bank Guangya Tan (C) Chiều sâu tự nhiên chỗ cạn nhất là 7 mét. Có san hô. Vài nơi cho rằng đảo thuộc về Trung quốc và Vài nơi nói rằng đảo thuộc về Việt Nam. 0
Bãi Phúc Tần (V)
Chưa nước nào đóng quân
Tên quốc tế Tên địa phương Miêu tả Diện tích (ha.)
Alicia Anne Reef Arellano (P) Một đụn cát, cao 1,2 m. Nhiều mỏm đá nhô trên mặt nước khi thủy triều lên. 0
Xian'e Jiao (C)
Đá Suối Ngọc (V)
Baker Reef Gongzhen Jiao (C) Nằm ngang với mặt nước khi thủy triều xuống. 0
First Thomas Reef Xinyi Jiao (C) Vài mỏm đá thường trực nhô trên mặt nước biển. Phần lớn của bãi đá ngầm nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Bao quanh một đầm nước. 0
Bãi Suối Ngà (V)
Holiday Reef Changxian Jiao (C) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Một phần của cồn Union. 0
Hopps Reef Lusha Jiao (C) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Một phần của Southampton Reefs. 0
Đá Lục Giang (V)
Jackson Atoll Wufan(g) Jiao (C) Năm phần nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Bao quanh một đầm nước. 0
Livock Reef Sanjiao Jiao (C) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Vài mỏm đá vẫn còn thấy được khi thủy triều lên. Một phần của Southampton Reefs. 0
Menzies Reef Mengzi Jiao (C) Nằm ngang mặt nước khi thủy triều xuống. Một phần của Loaita Bank. 0
Đá An Lão (V)
Sandy Cay/ Extension Reef Tiexian Jiao (C) Một đụn cát thấp; vành đá ngầm nhô trên mặt nước khi thủy triều lên. ??
Tieshi Jiao Tieshi Jiao (C) Chỉ nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Nằm phía đông bắc của đảo Thị Tứ và không được đặt tên trên hầu hết các bản đồ. 0
Zhangxi Jiao Zhangxi Jiao (C) Bãi đá ngầm nhỏ, chỉ một phần nhô trên mặt nước khi thủy triều xuống. Một phần của cồn Union. 0
Các tuyên bố chủ quyền không toàn vẹn
Chỉ Trung Quốc (trong đó có Đài Loan) và Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa. Các nước này thậm chí còn tuyên bố chủ quyền đối với những phần cách các nước khác như Philippines và Malaysia chỉ 50 km. Tuy nhiên, Philippines, Malaysia và Brunei chỉ tuyên bố chủ quyền đối với một phần quần đảo. Dưới đây là danh sách các đảo được các nước này tuyên bố chủ quyền nhưng không chiếm đóng (các nước hiện đang chiếm đóng ghi trong ngoặc):
Philippines: Đảo Ba Bình (Đ), Đảo An Bang (V), Đảo Nam Yết (V), Đảo Sơn Ca (V), Đảo Sinh Tồn (V), Đảo Sinh Tồn Đông (V), Đảo Song Tử Tây (V), Đảo Trường Sa (V), Đá Tiên Nữ (V), Đá Nam (V), Bãi Kiêu Ngựa (M), Erica Reef (M), Bãi Thám Hiểm (M), Đá Kỳ Vân (M), Đá Vành Khăn (T), Đá Su Bi (C) và tất cả các phần phía đông của kinh tuyến 116 (chưa bị chiếm đóng).
Malaysia:
Brunei: Bãi Vũng Mây (V), Louisa Reef (M) và Owen Shoal (không rõ)

Hình ảnh

Các đảo do Việt Nam giữ:

Tài liệu tham khảo

  • Kelly, Todd C. (1999). "Vietnamese Claims to the Truong Sa Archipelago". Explorations in Southeast Asian Studies

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục. Trích từ Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages viêtnamiens d’histoire et de geographie của Võ Long Tê, Sài Gòn, 1974, tr. 62.
  2. ^ Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn toàn tập, trang 119-120.
  3. ^ Hổ Môn là một trong những cửa dông Châu Giang thuộc tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc.
  4. ^ Xem: [1].
  5. ^ BBCVietnamese.com
  6. ^ BBCVietnamese.com
  7. ^ Diễn biến mới tại Trường Sa Bài của Roger Mitton đăng trên báo The Straits Times, Singapore
  8. ^ Bàn về xung khắc Việt Trung trên biển 20 Tháng 7 2007-Cập nhật 11h26 GMT
  9. ^ Đàm phán biên giới Việt - Trung 29 Tháng 7 2007 - Cập nhật 19h27 GMT
  10. ^ Chemilier Gendreau, Monique. Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. The Hague: Kluwer Law International, 2000. tr 43
  11. ^ Việt Nam đã có Luật Biển
  12. ^ Lưu Văn Lợi, Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 1995, tr.105.
  13. ^ a b c Bộ Ngoại giao Trung Quốc
  14. ^ Bài Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trên báo Đại Đoàn Kết, ngày 27/7/2011.
  15. ^ Đăng lại trên Vietnamnet ngày 20/7/2011.
  16. ^ Bài Báo Việt Nam nói về Công hàm Phạm Văn Đồng, trên BBC Vietnamese ngày 20/7/2011.
  17. ^ Báo Hải Phòng
  18. ^ Tạp chí Xây Dựng Đảng - Chủ quyền biển đảo Việt Nam
  19. ^ Về lá thư của Phạm Văn Đồng năm 1958, BBC Việt ngữ, 24/1/2008.
  20. ^ Bản đồ Trung Quốc năm 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa
  21. ^ Công hàm đăng trên Báo Nhân Dân số 1653, ngày 22-9-1958
  22. ^ Từ Đăng Minh Thu, Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, TpHCM, Nxb Trẻ, 2008, tr. 158-159
  23. ^ Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 14 tháng 02 năm 1974
  24. ^ White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands, Republic of Vietnam, Ministry of Foreign Affairs, Saigon, 1975
  25. ^ The Battle of the Paracel Islands
  26. ^ Xinhua, China raises administrative status of South China Sea islands, 21/06/2012
  27. ^ “国务院批准设立地级三沙市 民政部新闻发言人答问”. Truy cập 22 tháng 6 năm 2012.
  28. ^ Lịch sử cục tác chiến, NXB Quân đội nhân dân, 2005, Chương 3 - GIAI ĐOẠN BA (từ 3-1979 đến 1989)

Liên kết ngoài